Trả Lời

Phần TRẢ LỜI này tổng hợp các câu hỏi thường gặp và giải đáp chi tiết. 

Nhấn dấu cộng (+) để mở rộng:

  • X là 10 trong tiếng La Mã, là Thập trong tiếng Hán Việt, còn G là giác, M là minh. Như vậy ghép lại là.
  • Ngoài ra X trong toán học là một biến số cần giải, là một đối tượng của tâm trí. Nên X cũng mang ý nghĩa là Pháp sanh diệt, một đối tượng của tâm.
  • Nội dung của Thập Giác Môn dựa theo chánh pháp của Đức Phật Thích Ca được Ngài thuyết giảng khi còn tại thế và 500 đệ tử của Ngài, những tôn giả đã chứng quả A La Hán kết tập và ghi chép thành kinh điển trong tiếng Pali tên là Nikaya. Trong đó lấy cảm hứng từ bài kinh trong Tăng chi bộ Lấy Căn Bản Với Thế Tôn (AN 10.58 Mulaka Sutta).
  • Ngoài ra phần dẫn nhập của cánh cửa thứ nhất có đề cập đến một số tinh hoa của các bậc thánh nhân và chân nhân để lại cho hậu thế.
  • Con vẫn còn đang trên đường giác ngộ giải thoát. Tâm nguyện của con là lan tỏa con đường giải thoát của Đức Phật cho tất cả chúng sinh. Có thể nhờ sự chia sẻ này mà có nhiều đọc giả hữu duyên được lợi lạc.

Con học và y hành theo chánh pháp của Đức Thế Tôn và lấy giới luật làm thầy, nhờ vậy con không bị lạc lối. Ngoài ra khi đàm đạo hay nghe chia sẻ Pháp, con luôn ghi nhớ và thực hành theo 4 nguyên tắc sau:

  • Y pháp bất y nhân: đừng thọ nhận giáo pháp chỉ vì hình tướng hoặc mối quan hệ của người chia sẻ, phải tham khảo chánh kinh, rồi tự truy vấn và thận trọng áp dụng và kiểm chứng kết quả.
  • Y nghĩa bất y ngữ: nắm bắt cốt lõi của giáo pháp quan trọng hơn là bám vào câu từ rồi mắc kẹt trong pháp.
  • Y trí bất y thức: Tự mình như thật biết, như thật thấy Pháp, không phải chỉ là khái niệm vọng tưởng.
  • Y liễu nghĩa, bất y bất liễu nghĩa: Chỉ thọ trì những giáo pháp đưa đến giác ngộ giải thoát, bỏ qua những giáo pháp còn sinh tử luân hồi.

Câu Hỏi: Tôi được biết hiện nay có 2 trường phái chính: là trường phái tiểu thừa trường phái đại thừa (gồm hiển giáo và mật giáo). Theo đó trường phái đại thừa có để đưa hành giả đạt quả vị Bồ Tát trong thời nhanh nhất, còn hành giả theo trường phái tiểu thừa thì phải mất thời gian rất lâu mới đắc được quả vị A La Hán. Nếu thọ trì Thập Pháp Môn thì mất bao lâu để chứng đắc, và chứng đắc quả vị gì?

Trả lời

  • XGM dựa trên giáo pháp trong hệ thống kinh điển Nikaya, đưa đến giác ngộ giải thoát, chứng đắc quả vị A La Hán. Thời gian lâu hay mau không phụ thuộc vào mong cầu của hành giả mà dựa trên sự y hành và tinh tấn của hành giả. Giống như con gà mái ấp 8 trứng hay 12 trứng, nếu nó khéo léo và kiên trì ấp trứng đúng cách thì đến ngày đến giờ gà con sẽ tự mổ vỏ trứng chui ra mà không phụ thuộc việc mong cầu của gà mẹ. Còn nếu gà mẹ dù có thường xuyên mong cầu nhưng không khéo léo ấp trứng và thường bỏ bê việc ấp thì số trứng ấy sẽ không nở ra gà con.
  • Như đã trình bày trong nội dung chia sẻ của XGM, tất cả các pháp đồng quy về Niết Bàn cho nên việc thọ nhận giáo pháp Đại thừa hay Tiểu thừa mà hiền giả đề cập thì tùy thuộc vào căn cơ, nhân duyên và hạnh nguyện của hành giả. Cũng cần nhớ đặc tính giáo pháp của đức Thế Tôn là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, được người trí tự mình giác hiểu. Pháp như là một chiếc bè và là ngón tay giúp hành giả không bị gặp nguy hiểm và lạc lối. Khi đã qua được bờ bên kia, tức bờ giác ngộ giải thoát rồi thì lúc đó hành giả không cần mang theo chiếc bè làm chi và có thể tự mình thắp đuốc mà đi.

Một trong những bất cập đối với một hành giả tu theo pháp môn “Đại thừa” là chỉ chú trọng tu tập tuệ quán hay “cái biết” mà không thanh tịnh giới, tín và hạnh nên không tăng trưởng trong chánh pháp, bị rơi vào tà kiến nhận lầm thức tri là tuệ tri. Bởi vì điều kiện tiên quyết để vào được định của sơ thiền là phải diệt trừ được 5 triền cái. Mà thiếu định thì không tăng trưởng tuệ được, nó như hai cánh của một con chim, nếu thiếu một cánh thì chim không thể bay. Ngoài ra hành giả cũng lưu ý sau khi thọ nhận giáo lý thì cần thiết là phải nhiệt tâm, tinh tấn thọ trì, việc thay đổi pháp môn thường xuyên cũng là biểu hiện của tâm hoài nghi do dự. Hậu quả là hành giả loay hoay, không tăng trưởng, bị hoang mang và thậm chí thối thất con đường tu tập.

Luôn truy vấn những Pháp được nghe, thấy là điều cần thiết trên con đường tu học. Nhưng các Pháp cần được giải thì tâm mới thông minh. Nếu tư tưởng không thông thì hành giả sẽ chần chừ do dự và không nhiệt tâm. Nội dung được XGM (Thập Giác Môn) đúc kết từ những giáo pháp thâm sâu trong bộ Kinh Nikāya, bao gồm các kinh có tên sau:

1. Trường Bộ Kinh (Dīgha Nikāya)

  • DN 15: Mahānidānasutta — Kinh Đại Duyên
  • DN 16: Mahāparinibbānasutta — Kinh Đại Bát Niết Bàn

2. Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya)

  • MN 18: Madhupiṇḍikasutta — Kinh Mật Hoàn
  • MN 20: Vitakkasaṇṭhānasutta — Kinh An Trú Tầm
  • MN 28: Mahāhatthipadopamasutta — Đại Kinh Dụ Dấu Chân Voi
  • MN 43: Mahāvedallasutta — Kinh Đại Phương Quảng
  • MN 44: Cūḷavedallasutta — Kinh Tiểu Phương Quảng
  • MN 112: Chabbisodhanasutta — Kinh Sáu Thanh Tịnh
  • MN 117: Mahācattārīsakasutta — Kinh Đại Tứ Thập
  • MN 118: Ānāpānassatisutta — Kinh Niệm Hơi Thở Vào Hơi Thở Ra
  • MN 119: Kāyagatāsatisutta — Kinh Thân Hành Niệm
  • MN 140: Dhātuvibhaṅgasutta — Kinh Phân Biệt Giới

3. Tương Ưng Bộ Kinh (Saṃyutta Nikāya)

  • SN 12.10: Gotamasutta — Kinh Gotama (Kinh Tiền Thân Đức Phật)
  • SN 12.63: Puttemaṃsasutta — Kinh Thịt Đứa Con
  • SN 22.54: Bījasutta — Kinh Hạt Giống
  • SN 22.79: Khajjanīyasutta — Kinh Bị Nhai Nuốt
  • SN 22.81: Pālileyyasutta — Kinh Tại Pārileyyaka
  • SN 22.87: Vakkalisutta — Kinh Vakkali
  • SN 48.10: Dutiyavibhaṅgasutta — Kinh Phân Tích Thứ Hai (Ngũ Căn)
  • SN 56.11: Dhammacakkappavattanasutta — Kinh Chuyển Pháp Luân

4. Tăng Chi Bộ Kinh (Aṅguttara Nikāya)

  • AN 3.65: Kesamuttisutta — Kinh Kesamutti (Kinh Kālāma)
  • AN 6.63: Nibbedhikasutta — Kinh Pháp Môn Quyết Trạch
  • AN 10.58: Mūlakasutta — Kinh Lấy Căn Bản Nơi Thế Tôn
  • AN 10.99: Upālisutta — Kinh Upāli

Nội dung các kinh này sẵn có trên www.suttacentral.net được trình bày ngôn ngữ gốc Pali, Anh, Việt … Trong đó tiếng Việt là bản dịch của cố Hòa Thượng Thích Minh Châu. Khi đủ nhân duyên XGM sẽ đăng tải chia sẻ những nội dung tóm tắt những Kinh này lên website và các nền tảng không gian mạng cho đọc giả hữu duyên tham khảo.

  • Khi chưa giác ngộ, tức còn bị gàng buộc thì ta cần nương tựa vào tri kiến của Đức Phật, bậc A la hán, Chánh đẳng giác thì ta mới biết được đường mà lội biết lối mà đi và giới luật để bảo vệ ta khỏi thế lực của Ma. Giống như người thợ mộc dùng con niêm nhỏ để đánh con nêm khác văng ra. Hành giả có thể tham khảo MN 20 Vitakkasaṇṭhānasutta (kinh An Trú Tầm).

Con có thể tuyên bố tự tin tuyên bố các đảm bảo sau:

  • Động cơ chia sẻ phát xuất từ tín thiện vì hạnh phúc của muôn loài chúng sinh;
  • Nội dung chia sẻ dựa trên chánh pháp mà con đã tự mình đọc, hiểu và thọ trì;
  • Tâm người chia sẻ hoàn toàn xả ly không mong cầu đối với kết quả của việc chia sẻ.
  • Tâm nguyện của con là làm con thuyền chuyên chở và là chiếc loa lan tỏa lời giáo huấn của đức Phật Thích Ca. Ngài vì lòng thương tưởng và hạnh phúc của chúng sinh mà đã tìm ra, thuyết giáo và để lại con đường để chúng sinh hành theo mà thoát khổ. Đó là lý do con xây dựng và phát triển website XGM này.
  • Bên cạnh những nội dung chia sẻ trên website này con cũng sẽ tạo ra những nội dung thuyết trình và video có chủ để có liên quan đến việc hướng dẫn tu tập để cho hành giả hữu duyên tham khảo. Và con cũng thông qua phương tiện này để nhận được những thông tin phản hồi từ hành giả và các bậc giác giả hữu duyên.

Những nội dung chia sẻ được cung cấp hoàn toàn miễn phí cho đọc giả hữu duyên và các tài liệu chia sẻ không liên kết các quảng cáo để nhận hoa hồng để tránh phạm vào tà mạng là “buôn pháp của Phật”. Mọi sự tài chính của các đại thí chủ để xây dựng và duy trì website này là cần thiết và được tán thán vì nó góp phần lan tỏa chánh pháp của Đức Thế Tôn, Ngài đã tìm ra và thuyết giảng con đường giải thoát vì hạnh phúc và lòng thương tưởng chúng sinh hữu tình.

  • Câu hòi này hành giả nên tự hỏi chính mình, vì sao tu học đã lâu nhưng không tiến triển vẫn còn phiền não khổ đau?
  • Có phải do việc hành còn bất cập hay thái quá không?
  • Con vẫn học theo cách thủ công truyền thống, là đọc chánh kinh, chép lại kinh, tuy duy, hồi quan tự kỷ và y hành theo lời chỉ dạy của Đức Thế Tôn.

Giữa biết, thấy và thực chứng là các vấn đề hoàn toàn khác nhau.

  • Người biết đạo: là người do nghe pháp và học hỏi.
  • Người hiểu đạo: sau khi biết đạo, người đó trao đổi, đàm đạo để hiểu đạo
  • Người thấy đạo: Sau khi nghe, đàm đạo người đó thực hành theo và thấy được những gì được mô tả.
  • Người đắc đạo: nghe, đàm đạo, thực hành và viên mãn.

Có thể có nhiều người đắc đạo, nhưng ta chưa có đủ nhân duyên để diện kiến họ.

Có một số tiêu chí được đức phật chỉ dạy, được tóm lược như sau:

  1. Qua chung sống, mới biết được giới hạnh.
  2. Qua giao tiếp (làm việc chung), mới biết được sự thanh tịnh.
  3. Qua nghịch cảnh (hoạn nạn), mới biết được nghị lực.
  4. Qua thảo luận, mới biết được trí tuệ.
  5. Đức Phật cũng nhấn mạnh rằng quá trình quan sát này phải diễn ra trong một thời gian dài, với sự chú tâm và bởi một người có trí tuệ.

XGM tập trung cốt yếu vào việc đoạn tận cội nguồn khổ đau của chúng sinh – tức là giải quyết trọn vẹn Khổ uẩn (Sanh, Già, Bệnh, Chết). Đây chính là nội dung Tứ Thánh Đế trong bài kinh đầu tiên Kinh Chuyển Pháp Luân (SN 56.11). Đức Thế Tôn cũng khẳng định nhất quán trong Kinh Ví Dụ Con Rắn (MN 22): “Này các Tỳ-kheo, xưa cũng như nay, Ta chỉ dạy về Khổ và sự Diệt Khổ.”

Việc nhận diện Khổ không phải là bi quan, mà là sự thật khách quan. Vì “An tịnh là bản thể, khổ đau là duyên khởi”, nên khi đoạn trừ được duyên khởi của khổ, trạng thái an tịnh tự nhiên hiển lộ. Bên cạnh đó, Đức Phật vẫn dạy các pháp thiết thực cho đời sống cư sĩ:

  • Kinh Mahānāma (AN 11.11): Dạy cách an trú trong Năm căn và thực hành Lục niệm để tâm luôn định tĩnh giữa đời thường.
  • Kinh Dīghajāṇu (AN 8.54): Hướng dẫn 4 pháp tạo hạnh phúc hiện tại (Tháo vát, Phòng hộ, Thân cận thiện hữu, Sống thăng bằng) và 4 pháp cho hạnh phúc tương lai (Tín, Giới, Thí, Tuệ).

Sinh và tử là việc đại sự
Đại sự thành thì vạn sự xong
Không lo xa ắt có họa gần
Trời thì có gió mưa bất trắc
Người thì có họa phúc khôn lường
Ai biết được ngày mai hay đời sau
Một trong hai cái nào đến trước?

Thời Đức Phật, mỗi vị Thánh đệ tử đều có những vai trò và tâm nguyện riêng biệt để hộ trì Tam Bảo:

  • Cư sĩ Anāthapiṇḍika và bà Visākhā: Là những bậc Thánh hữu học tại gia. Với niềm tin bất động, họ chọn thị hiện trong hình tướng cư sĩ để làm chỗ dựa tài chính vững chắc, cúng dường các đại tịnh xá (Kỳ Viên, Lộc Mẫu), tạo điều kiện tối ưu cho Tăng đoàn tu học.
  • Tôn giả Ānanda: Ngài chứng sơ quả từ sớm nhưng giữ vị thế Thánh hữu học suốt 25 năm làm thị giả. Đây là hiện thân của lòng tận tụy và tâm nguyện lớn lao: Ngài dành trọn thời gian chăm sóc Đức Thế Tôn và ghi nhớ toàn bộ giáo pháp (Đa văn). Chính nhờ sự hy sinh việc tu tập riêng tư đó mà hậu thế mới có được kho tàng Kinh tạng Nikaya nguyên vẹn. Ngài chỉ chứng quả A-la-hán ngay trước kỳ Kết tập kinh điển lần thứ nhất, sau khi đã hoàn thành sứ mệnh thị giả.

Con xin chia sẻ những thấy biết cá nhân từ quá trình học và hành theo lời Phật dạy với tâm nguyện mang lại lợi lạc cho những đọc giả hữu duyên. Con không giữ lại điều gì cho riêng mình, cũng không mong muốn giữ chặt ai. Con tin rằng khi giữ tâm thiện lành và xả ly, thì mọi pháp đến rồi đi đều vô ngại, tựa như ánh trăng xuyên qua cửa sổ mà không để lại dấu vết gì.
Ở đây, con luôn thọ trì lời dạy của Đức Thế Tôn qua hai bài kinh cốt lõi:

  • Kinh Đại Bát Niết Bàn (DN 16): Khi Tôn giả Ānanda lo sợ khi đức Thế Tôn sẽ nhập Niết Bàn, Đức Thế Tôn đã dạy: “Này Ānanda, Ta đã giảng Chánh pháp, không có phân biệt trong ngoài (cho đệ tử hay cho đại chúng). Vì đối với các Pháp, Như Lai không bao giờ là vị Đạo sư còn ‘nắm tay’ (không giữ lại bí mật nào để ràng buộc đệ tử)”. Con cũng nguyện chia sẻ hết lòng những gì mình hiểu mà không có ý đồ thâu tóm hay giữ riêng.
  • Kinh Ví Dụ Con Rắn (MN 22): Đức Phật dạy rằng nếu bị nhiếc mắng hay phỉ báng, các Tỷ-kheo chớ nên sân hận; ngược lại, nếu được cung kính cúng dường, cũng chớ nên hoan hỷ, thích thú. Khi đối diện với cả hai sự cực đoan đó, hãy quán chiếu rằng: “Đây chỉ là những tác động lên Năm uẩn (khổ) mà ta đã thấu triệt từ trước”. Thấu hiểu điều này, con đón nhận mọi phản hồi với tâm xả kỷ, biết rằng đó chỉ là sự vận hành của các pháp.

cuộc đời đức phật

Đức Phật là danh xưng tôn kính của Thái tử Tất-đạt-đa Cồ-đàm (Siddhattha Gotama) sau khi thành đạo, có nghĩa đen là “Bậc tỉnh thức” hoặc “Bậc giác ngộ”

  • Thái tử Tất-đạt-đa Cồ-đàm (Siddhattha Gotama) là một nhân vật lịch sử có thật, đản sinh tại vườn Lâm-tỳ-ni (Lumbini) và lớn lên trong hoàng cung thành Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavatthu) — hai địa danh lịch sử thuộc đất nước Nepal ngày nay. Mẫu hậu của Ngài là Hoàng hậu Ma-gia (Māyā), vua cha là Đức vua Tịnh Phạn (Suddhodana), thủ lĩnh của bộ tộc Thích-ca (Sākyā).
  • Trước khi chứng ngộ, Ngài cũng trải qua đời sống thế tục như bao người. Nhưng khi nhận ra nỗi khổ ách sinh, già, bệnh, chết đang trói buộc nhân loại. Đến năm 19 tuổi Ngài đã quyết chí xuất gia, tầm cầu con đường vô thượng tối thắng an tịnh. Sau năm năm tầm sư học đạo và sáu năm tu hành khổ hạnh không mang lại kết quả giải thoát, Ngài đã ngồi tĩnh tọa tham thiền suốt 49 ngày đêm. Cuối cùng, Ngài chứng đắc Tam Minh và quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác dưới cội Bồ-đề, ở xứ Ưu-lâu-tần-loa (Uruvelā), nay là Bodh Gaya, bang Bihar, Ấn Độ.
  • Dưới đây là nội dung chi tiết được chia làm 4 chủ đề lớn về cuộc đời  của Ngài: Phật – Pháp – Tăng – Luật

Theo truyền thống và các kinh văn lưu hành của hệ phái Đại thừa (Mahāyāna), các thông tin liên quan đến cuộc đời Đức Phật được trình bày tóm lược như sau (xem chú giải mục 4 dưới đây):

  1. Đản sinh – Kết hôn – Xuất gia
  2. Tầm Đạo – Tu Khổ Hạnh
  3. Thành Đạo – Hoằng Pháp – Nhập Niết Bàn
  4. Sơ đồ tổng hợp và chú giải

1. Đản sinh - Kết hôn - Xuất gia

Đản Sinh

  • Vào ngày mùng 8 tháng 4 âm lịch năm 624 TCN, trên đường từ thành Ca-tỳ-la-vệ(Kapilavatthu) trở về quê ngoại xứ Câu-ly(Koliya) để sinh nở theo tập tục thời bấy giờ, Hoàng hậu Ma-gia (Māyā) đã hạ sinh Thái tử Tất-đạt-đa tại vườn Lâm-tỳ-ni (Lumbini). Theo truyền thuyết, ngay khi vừa hạ sinh, Thái tử đã bước đi bảy bước, mỗi bước chân đều được một hoa sen nâng đỡ. Sau khi quán chiếu bốn phương, Ngài hướng về phương Bắc, một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất và dõng dạc tuyên bố: “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã tối thắng”.
  • Vào ngày lễ mừng Thái tử đản sanh, vua cha Tịnh Phạn (Suddhodana) đã mời đạo sĩ ẩn dật A-tư-đà (Asita) ở trên núi vào hoàng cung để xem tướng cho Thái tử. Qua việc chiêm ngưỡng ’32 tướng tốt của bậc Đại nhân’, đạo sĩ tiên tri rằng đứa trẻ này nếu tại gia sẽ trở thành một vị Chuyển luân Thánh vương (Chakravartin) cai trị thiên hạ; còn nếu xuất gia, Ngài sẽ trở thành một bậc, lãnh tụ Tôn giáo vĩ đại, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác (Sammā-sambuddha).
  • Bảy ngày sau khi hạ sinh Thái tử, Hoàng hậu Ma-gia băng hà; Ngài được di mẫu là bà Ma-ha-ba-xà-ba-đề Cồ-đàm-di (Mahāprajāpatī Gotamī) — em gái của Hoàng hậu Ma-gia (Māyā) — thương yêu, chăm sóc và nuôi dưỡng.”

Kết Hôn

  • Vua cha và hoàng gia luôn mong muốn Ngài sẽ kế thừa ngai vị sau này thay vì trở thành một lãnh tụ tôn giáo. Vì vậy, triều đình luôn sắp đặt để Ngài sống trong cảnh xa hoa, cách biệt với thực tế xã hội và hạn chế tiếp xúc với các bậc tu sĩ.
  • Khi tròn 16 tuổi, Ngài được sắp xếp kết hôn với Công chúa Da-du-đà-la (Yasodharā) — con gái của vua Thiện Giác (Suppabuddha) và hoàng hậu A-mật-đa (Pamitā),  nước Câu-ly (Koliya)— nhằm mục đích trói buộc Ngài với đời sống thế tục.

 Xuất Gia

  • Đến năm 19 tuổi, nhằm đêm mùng 8 tháng 2 âm lịch năm 605 TCN, khi nghe tiếng khóc chào đời của con trai là La-hầu-la (Rāhula), Ngài liền liên tưởng đến hình ảnh người già, người bệnh, người chết và vị sa-môn mà bản thân đã gặp khi đi thưởng ngoạn qua bốn cửa thành Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavatthu). Những hình ảnh ấy một lần nữa làm rúng động tâm can Ngài. Ngài tự suy ngẫm: Con người ta sinh ra ở đời ai rồi cũng phải già, bệnh rồi chết, không ai có thể gánh thay nỗi đau khổ này cho ta. Vậy, ta phải tự mình nỗ lực tìm con đường giải thoát khổ ách này cho bản thân và cho chúng sinh muôn loài. Ấn tượng bởi vị sa-môn sống tự tại, phóng khoáng như hư không khiến Ngài nhận ra đời sống gia đình vốn nhiều triền phược, đầy bụi đời, thật khó để tu học phạm hạnh. Ngài quyết định: “Ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, từ bỏ gia đình để sống đời xuất gia không nhà.”
  • Ngay trong đêm đó, Ngài bảo người hầu Xa-nặc (Channa) chuẩn bị ngựa Kiền Trắc (Kanthaka) rồi cùng Ngài lặng lẽ rời khỏi thành Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavatthu) để tìm cầu học đạo. Khi đã đi xa kinh thành và đến bờ dòng sông An-nô-ma (Anomā), Ngài tự tay cạo bỏ râu tóc của mình. Sau đó, Ngài trao lại y phục, trang sức và bảo Xa-nặc dẫn theo ngựa Kiền Trắc quay về kinh thành để báo cho vua cha cùng hoàng tộc biết rằng Ngài đã quyết chí xuất gia, tầm cầu con đường giải thoát khỏi nỗi khổ sinh, già, bệnh, chết. Một mình bộ hành tiến vào rừng sâu, trên đường đi, Ngài gặp một người thợ săn và đã đề nghị đổi trang phục hoàng gia quý báu của mình để lấy tấm y phấn tảo thô sơ của vị ấy. (về mục lục)

2. Tầm đạo - Tu khổ hạnh

Tầm sư học đạo (605-600 TCN)

  • Ngài xuất gia như vậy, với lòng mong muốn (chanda) đi tìm cái gì chí thiện, vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ. Ngài tìm đến đạo sư đầu tiên là A-la-la Ca-la-ma (Āḷāra Kālāma) và ngỏ ý muốn tu tập trong Giáo pháp và Luật chế của vị này. Không bao lâu sau, Ngài đã chứng đắc định cảnh cao nhất của đạo sư là Vô sở hữu xứ. Tuy nhiên, Ngài nhận ra tầng định này không hướng đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, tịnh chỉ, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn, nên đã từ giã ra đi. Tiếp đó, Ngài tìm đến đạo sư U-đầu-lam-phất (Udaka Rāmaputta) để thọ học và nhanh chóng chứng đạt cảnh giới định cao nhất mà vị đạo sư này đã chứng đắc là Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Một lần nữa nhận thấy pháp môn này vẫn không đưa đến tuệ giác tối thượng và Niết-bàn, Ngài quyết định từ bỏ và tiếp tục hành trình tầm cầu con đường giải thoát tối thượng an ổn Niết Bàn.

Khổ Hạnh (600-594 TCN)

  • Ngài tuần tự du hành qua vương quốc Ma-kiệt-đà (Magadha) rồi dừng chân tại một khu rừng thanh tịnh bên dòng sông Ni-liên-thiền (Nerañjarā), gần thị trấn Senānigama thuộc xứ Ưu-lâu-tần-loa (Uruvelā). Tại đây, Ngài gặp gỡ và cùng năm anh em ông Kiều-trần-như (Kondañña) thực hành các phương pháp khổ hạnh cực đoan, bao gồm việc nín thở và tiết chế ăn uống đến mức tối đa. Mỗi ngày Ngài chỉ ăn một hạt mè khiến thân hình trở nên gầy gò, xương cốt lộ rõ qua da và sinh lực suy kiệt dần. Vào thời điểm đó, một cô thôn nữ tên là Tu-xà-đa (Sujātā) đi ngang qua, thấy Ngài đang bên bờ vực kiệt sức nên đã thành kính cúng dường một bát cháo sữa (kheer). Sau khi thọ dụng, Ngài hồi phục sức khỏe và nhận ra rằng việc tu hành khổ hạnh cực đoan trong suốt thời gian qua không những không giúp đạt được mục tiêu Niết-bàn (Nibbāna) mà còn làm tiêu tán sinh lực. Do đó, Ngài quyết định từ bỏ con đường hành xác này. Sự thay đổi đó khiến năm anh em ông Kiều-trần-như (Kondañña) thất vọng rời bỏ Ngài, vì họ tin rằng Ngài đã thối thất tâm tinh cần để trở lui đời sống vật chất đầy đủ.” (về mục lục)

3. Thành Đạo - Hoằng Pháp - Nhập Niết Bàn

Thành đạo

  • Sau quyết định từ bỏ pháp tu khổ hạnh cực đoan, Ngài đã ngồi dưới gốc cây Bồ đề để thiền định (jhāna) với quyết tâm không đứng dậy cho đến khi chứng đạt Niết-bàn. Và Ngài đã ngồi kiết già lưng thẳng, nhiệt tâm, tỉnh giác và chánh niệm hồi quang phản chiếu đi sâu vào tâm thức mình và đã nhớ lại tiền kiếp khi còn là Bồ-tát, Ngài đã từng suy nghĩ như sau: “Thật sự thế giới này bị hãm trong khổ não, bị sanh, bị già, bị chết, bị đoạn diệt, và bị tái sanh; và từ nơi đau khổ này, không biết xuất ly khỏi già và chết; từ nơi đau khổ này, không biết khi nào được biết đến xuất ly khỏi già và chết”. Vào thời điểm đó Ngài đã như lý tác ý lý duyên khởi, do cái gì có mặt già chết có mặt, do cái gì diệt già chết diệt. Ngài đã thấy rõ đây là khổ, đây là khổ tập, đây là khổ diệt, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, nhãn khởi lên, trí khởi lên, tuệ khởi lên, minh khởi lên, quang khởi lên. Rồi vào lúc đó Ngài thấy một thấy một con đường cũ, một đạo lộ cũ do các vị Chánh Ðẳng Giác thuở xưa đã đi qua, tức là thánh đạo 8 ngành. Vào thời đó, Ngài đã từng đi theo con đường ấy và tuệ tri:
    • Già chết, già chết tập khởi, già chết đoạn diệt, và con đường đưa đến già chết đoạn diệt (Tứ Thánh Đế).

    • Sanh, hữu, thủ, ái, thọ, xúc, sáu xứ, danh-sắc, rồi đến thức. Thức này trở lui không đi xa hơn danh-sắc (Lý Duyên Khởi).

    • Các hành, các hành tập khởi, các hành đoạn diệt, con đường đưa đến các hành đoạn diệt (Tiến trình 5 uẩn).

      (SN 12.65 Nagarasutta – Kinh Thành đô)

  • Sau 49 ngày đêm thiền quán liên tục, Đức Thế Tôn đã chứng đắc Tam Minh và Vô thượng An ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn. Và tri kiến khởi lên, sự giải thoát của Ngài không bị lay chuyển, đây là đời sống cuối cùng, không còn tái sinh nữa. Ngài đã thành tựu Phật quả vô thượng như vậy dưới cội cây Bồ-đề bên dòng sông Ni-liên-thiền (Nerañjarā), ở Ưu-lâu-tần-loa (Uruvelā) vào ngày mùng 8 tháng 12 âm lịch năm 594 TCN, khi ấy đã 30 tuổi.

Hoằng Pháp

  • Ngay sau khi giác ngộ, Đức Thế Tôn đã khởi lên tư tưởng: ‘Pháp này mà Ta đã chứng đắc thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng ngộ, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi tế, chỉ người trí mới thấu hiểu. Thế nhưng, quần sanh này lại ưa thích ái dục, thích thú ái dục, hoan hỷ trong ái dục, cho nên thật khó cho họ thấy được lý Duyên khởi. Và lại càng khó thấy hơn sự tịnh chỉ tất cả hành, sự từ bỏ mọi sanh y, sự diệt trừ tham ái, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. Nếu bây giờ Ta thuyết pháp mà người khác không hiểu được Ta, thì điều ấy sẽ chỉ đem lại sự mệt mỏi và khổ não cho Ta mà thôi’.
  • Tuy nhiên, vị Phạm thiên Sahampati biết được suy nghĩ ấy nên đã đến thuyết phục và thưa rằng có những chúng sanh ‘ít nhiễm bụi trần’ có thể hiểu được Chánh pháp. Vì lòng từ bi, Đức Thế Tôn đã dùng Phật nhãn quan sát thế giới, nhận thấy căn cơ của chúng sanh có sự sai biệt. Đối với những hạng lợi căn, ít nhiễm bụi đời, có thiện tánh, dễ dạy và thấy rõ sự nguy hiểm của ác nghiệp có thể dẫn đến tái sanh vào các cõi giới khác nhau, Ngài đã đồng ý thuyết pháp độ sinh.
  • Ngài tự truy vấn: ‘Ta sẽ thuyết pháp cho ai đầu tiên, ai sẽ mau chóng hiểu Chánh pháp này?’. Ban đầu, Ngài nghĩ đến hai vị đạo sư cũ là A-la-la Ca-la-ma (Āḷāra Kālāma)U-đầu-lam-phất (Udaka Rāmaputta) vì họ có thể thấu hiểu rất nhanh. Nhưng với thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân, Ngài nghe chư Thiên mách bảo cả hai vị đã lần lượt qua đời cách đây 7 ngày và 1 ngày. Tiếp theo, Ngài nghĩ đến nhóm năm anh em ông Kiều-trần-như (Kondañña). Với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, Ngài thấy nhóm năm vị này hiện đang trú ở Lộc Uyển (Migadāya), chỗ Tiên Đọa Xứ (Isipatana), thành Ba-la-nại (Bārāṇasī). Sau khi ở lại Ưu-lâu-tần-loa (Uruvelā) một thời gian vừa đủ, Ngài khởi hành đi đến thành Ba-la-nại (Bārāṇasī).
  • Trên đường đi đến vườn Lộc Uyển (Migadāya), Ngài gặp một du sĩ ngoại đạo tên là Upaka. Vị này cảm thán trước dung mạo thù thắng và hỏi thăm ai là đạo sư của Ngài. Sau khi nghe Đức Phật tuyên bố Ngài là bậc tối thượng, bậc Chánh Đẳng Giác, Upaka lắc đầu rồi đi theo một ngã khác. 
  • Có người sinh cùng thời, được gặp Phật nhưng không đủ duyên thì quả là điều đáng tiếc. Còn chúng ta tuy không sinh cùng thời, không trực tiếp gặp Phật nhưng nay được tiếp cận Chánh pháp của Ngài, đó chính là nhờ phước báu sâu dày vậy. (XGM)
  • Tôn giả Kiều-trần-như (Kondañña) là vị đệ tử đầu tiên đắc được Pháp nhãn sau khi nghe chánh Pháp, bốn vị đồng tu còn lại cũng lần lượt chứng quả tương tự sau đó vài ngày . Sau khi nghe Kinh Vô Ngã Tướng (SN 22.59 Anattalakkhaṇa Sutta) tiếp theo, cả năm vị (Koṇḍañña, Vappa, Bhaddiya, Mahānāma, Assaji) đã đoạn trừ hoàn toàn các lậu hoặc (āsava) và chứng đắc quả vị A La Hán. Trong số đó, Tôn giả A-thắng (Assaji) là người sau này đã gieo duyên hóa độ cho Tôn giả Xá-lợi-phất (Sāriputta) trong một lần đi khất thực.
  • Suốt 49 năm (593 – 544 TCN) giáo hóa chúng sanh, thu nhận đệ tử, Đức Phật đã xây dựng và phát triển giáo đoàn Tăng-già (Saṅgha) vững mạnh. Ngài đã độ cho hội chúng hơn 1.250 vị A-la-hán (Arahant) cùng vô số đại chúng đắc các Thánh quả Dự lưu, Nhất lai, Bất lai hoặc sinh thiên.

Nhập Niết-bàn

  • Tại rừng Sa-la song thọ thuộc thành Câu-thi-na (Kusinārā), vào ngày 15 tháng 2 âm lịch năm 544 TCN, Đức Thế Tôn nhập diệt, trụ thế 80 năm. (về mục lục)

4. Sơ đồ tổng hợp và Chú giải

xgm-budha-lifechart-v1

Phần chú giải

  • Vào thời đại của Đức Phật, người dân ở Diêm Phù Đề (Jambudīpa) gồm 16 quốc gia lớn dường như không bận tâm đến hệ thống niên đại mà tập trung nhiều vào triết học. Các bản kinh được kết tập sau này đã phản ánh rõ xu hướng đó. Chẳng hạn, Pháp của Thế Tôn được tán thán là “khéo thuyết giảng, không có thời gian, đến để mà thấy…” hay các bài kinh thường bắt đầu bằng cụm từ “Tôi nghe như vầy, một thời kia Thế Tôn ở Sāvatthī…” mà không đề cập đến niên đại cụ thể. Chính vì thế, việc xác định các cột mốc thời gian liên quan đến cuộc đời của Đức Thế Tôn phải dựa trên các dẫn chứng và biện luận. Mặc dù có rất ít thông tin được coi là vững chắc về mặt lịch sử, chúng ta hoàn toàn có thể tự tin một cách hợp lý rằng Thái tử Tất Đạt Đa Cồ Đàm (Siddhattha Gotama) là một nhân vật lịch sử có thật. Đồng thời, nội dung những bài thuyết giảng của Ngài đã được các đại đệ tử ghi chép, được Tăng đoàn (Saṅgha) bao thế hệ tiếp nối gìn giữ và hoằng dương cho đến nay; hệ thống giáo lý này mang tính chặt chẽ, nhất quán và vô cùng thực tiễn, vượt lên trên định kiến cho rằng đây là những sản phẩm do đời sau tự biên soạn.
  • Nội dung trình bày trong mục “Cuộc đời Đức Phật” nhằm cung cấp cho Quý độc giả một lập luận mang tính chất thuyết phục hơn là khẳng định, giúp Quý vị có cái nhìn xuyên suốt, tổng thể và nhất quán. Hiện nay, có một sự dung thông tư tưởng giữa các trường phái và điều đó hoàn toàn khế hợp với lời dạy của Đức Thế Tôn: “Pháp của Ta chỉ có một hương vị, đó là hương vị của giải thoát”.
  • Tuy nhiên, hiện tại có sự dị biệt về cột mốc thời gian liên quan đến hai sự kiện chính: thời điểm xuất gia và thời gian tầm cầu học đạo từ lúc xuất gia cho đến lúc chứng đạo. Các cột mốc thời gian khác sẽ thay đổi tùy thuộc vào thời gian diễn ra hai sự kiện này.
    Trong nội dung tài liệu này, hai cột mốc thời gian trên được trình bày theo tư tưởng của trường phái Đại thừa. Theo đó, Thái tử xuất gia năm 19 tuổi và thành đạo sau 11 năm tầm đạo, học đạo, tu khổ hạnh và 49 ngày Thiền định. Click để trở (về mục lục)

Trong phần này, chúng ta sẽ phân tích và đánh giá các căn cứ hỗ trợ cho hai cột mốc thời gian: Thái tử Tất Đạt Đa Cồ Đàm (Siddhattha Gotama) xuất gia năm 19 tuổi và thành đạo năm 30 tuổi. Nội dung này chủ yếu thuộc về phương diện tri thức lịch sử, không trực tiếp liên quan đến tuệ giác giải thoát, nên Quý độc giả có thể lướt qua nếu muốn. Tuy nhiên, nếu Quý vị quan tâm tìm hiểu, tri thức này sẽ trở thành một đối tượng của tâm (Pháp) cần được nhận diện rõ ràng. Việc thấu suốt nó giúp tâm không còn khởi sinh phân vân, do dự khi phải đề cập đến chủ đề này về sau. Khi hoài nghi chấm dứt, dòng tư tưởng (suy nghĩ) không hiện khởi, tâm sẽ được an trú. Ngoài ra, phương pháp biện chứng được sử dụng ở đây là dùng một hiện tượng pháp (thông tin tri thức) để chuyển hóa hoặc làm sáng tỏ một hiện tượng pháp khác, tương tự như cách Đức Thế Tôn đã giáo giới trong kinh An Trú Tầm (MN 20 Vitakkasaṇṭhāna Sutta) dùng một pháp hữu vi để làm sáng tỏ một pháp hữu vi khác, như người thợ mộc thiện xảo dùng con niêm đánh bật con niêm khác lớn hơn.
1. Căn cứ cho cột mốc 19 tuổi xuất gia

  • Kinh Thánh Cầu (MN 26 Pāsarāsi Sutta): Đức Thế Tôn đã mô tả trạng thái khi Ngài xuất gia là lúc còn rất trẻ, tràn đầy nhiệt huyết thanh xuân: “Rồi này các Tỷ-kheo, sau một thời gian, khi Ta còn trẻ, niên thiếu, tóc đen nhánh, đầy đủ huyết khí của tuổi thanh xuân, trong thời vàng son cuộc đời, mặc dầu cha mẹ không bằng lòng, nước mắt đầy mặt, than khóc, Ta cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. Chi tiết này khế hợp với quan điểm của truyền thừa Đại thừa về một vị Thái tử xuất gia ở độ tuổi niên thiếu (19 tuổi), thay vì độ tuổi chín chắn của một người trưởng thành muộn (29 tuổi).
  •  Kinh Giáo Giới La Hầu La Ở Rừng Amala (MN 61: Ambalaṭṭhika-rāhulovāda Sutta): Khoảng hơn một năm sau khi chứng đạo, Đức Thế Tôn trở lại kinh thành Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavatthu). Tại đây, Tôn giả La Hầu La (Rāhula) gặp lại cha lần đầu tiên và được Ngài cho phép xuất gia làm Sa-di ở độ tuổi khoảng 12 tuổi. Khi mới vào Tăng đoàn, Tôn giả La Hầu La được giao cho Tôn giả Xá Lợi Phất (Sāriputta) hướng dẫn. Vì còn quen tính khí của một vương tử, được nuông chiều và ý thức được vị thế của cha mình trong tăng đoàn nên Tôn giả đôi khi tinh nghịch nói dối để trêu đùa người khác. Sự việc được trình lên Đức Phật và Ngài đã giáo giới một cách nghiêm khắc nhưng đầy từ bi qua bài kinh này. Việc một vị Sa-di có tâm lý hiếu động, nghịch ngợm và nội dung bày kinh sâu sắc như vậy phù hợp với tâm sinh lý của một đứa trẻ khoảng 12 tuổi hơn là của đửa trẻ mới 7 tuổi, củng cố thêm cho trục thời gian của thuyết 19 tuổi xuất gia khi tôn giả La Hầu La (Rāhula) vừa chào đời.

2. Căn cứ cho cột mốc 11 năm tầm cầu học đạo và tu khổ hạnh

  • Vào thời cổ đại Ấn Độ, việc bộ hành qua rừng sâu núi thẳm để tìm kiếm minh sư và học hỏi giáo lý không thể diễn ra nhanh chóng hay dễ dàng. Mặc dù kinh tạng ghi lại rằng Đức Phật không gặp khó khăn để chứng đắc các tầng thiền định cao nhất (Vô sở hữu xứ và Phi tưởng phi phi tưởng xứ) từ hai vị thầy đầu tiên, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc toàn bộ tiến trình tầm đạo chỉ diễn ra trong vài tháng ngắn ngủi.
  • Do đó, khoảng thời gian 5 năm đầu tiên tầm sư học đạo với hai vị đạo sư A-la-la Ca-la-ma (Āḷāra Kālāma) và U-đầu-lam-phất (Udaka Rāmaputta) là chuỗi ngày cần thiết để Ngài trải nghiệm, chiêm nghiệm và tích lũy trọn vẹn đời sống của một vị khất sĩ khổ hạnh. Sau giai đoạn này, Ngài mới chuyển đến dòng sông Ni-liên-thiền (Nerañjarā), xứ Ưu-lâu-tần-loa (Uruvelā) để cùng năm anh em ông Kiều-trần-như (Koṇḍañña) dấn thân vào con đường khổ hạnh cực đoan trong 6 năm tiếp theo. Tổng cộng, hành trình 11 năm tầm đạo và khổ hạnh này là một tiến trình logic, vừa vặn để đưa một vị Thái tử xuất gia từ năm 19 tuổi chạm đến đỉnh cao chứng ngộ vào năm 30 tuổi.

1. Chuyển Pháp Luân

Sau khi đắc đạo và trú ở Ưu-lâu-tần-loa (Uruvela) vừa đủ, Thế Tôn tuần tự bộ hành qua Ba-la-nại (Bārāṇasī), Tiên đọa xứ (Isipatana), đến Lộc Uyển (Migadāya), chỗ của nhóm năm anh em ông Kiều-trần-như (Koṇḍañña).

Nhóm năm người ấy khi thấy Thế Tôn từ xa đi đến, đã cùng nhau hội ý và thỏa thuận như sau: “Này các huynh, có Sa-môn Gotama đang đi đến đây; vị ấy sống trong sự sung túc, đã từ bỏ tinh cần, đã trở lui đời sống đầy đủ vật chất. Khi vị ấy đến đây, chúng ta chớ có đảnh lễ, chớ có đứng dậy, chớ có lấy y bát. Chúng ta chỉ đặt sẵn một chỗ ngồi, nếu muốn, vị ấy có thể ngồi đấy”.

Mặc dù đã thỏa thuận như vậy, nhưng khi Thế Tôn càng đi đến gần, với dung mạo thù thắng khiến cả năm Tỳ-kheo đều không giữ được ước hẹn mà tự động đứng dậy; có người đến đón và cầm lấy y bát, có người sắp đặt chỗ ngồi, có người đem nước đến cho Thế Tôn rửa chân.

Sau đó, Thế Tôn bảo 5 vị ấy rằng: “Này các Tỳ-kheo, Như Lai không sống sung túc, không từ bỏ tinh cần, không trở lui đời sống vật chất đầy đủ. Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Hãy lóng tai, Pháp bất tử đã chứng được, Ta giảng dạy, Ta thuyết pháp. Sống đúng theo lời khuyến giáo, các Ông không bao lâu, sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt được ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của phạm hạnh mà các Thiện nam tử xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, các Ông sẽ an trú.”

Sau khi Thế Tôn đã làm cho nhóm năm Tỳ-kheo chấp nhận, Thế Tôn bắt đầu thuyết giảng cho các vị ấy. Lúc bấy giờ, Ngài sắp xếp để các Tỳ-kheo thay phiên nghe pháp và đi khất thực. Khi Thế Tôn thuyết pháp cho nhóm 2 Tỳ-kheo, 3 Tỳ-kheo còn lại đi khất thực mang vật thực về cho cả 6 người. Ngày hôm sau, nhóm 3 người ở lại trú xứ nghe pháp, còn nhóm 2 người kia đi khất thực mang đồ ăn về cho cả 6 người.

Tại đấy, Thế Tôn đã thuyết giảng cho chúng năm Tỳ-kheo như sau: “Này các Tỳ-kheo, có hai cực đoan mà một người xuất gia không nên thực hành theo:

  • Một là đắm say trong các dục (kāmesu), hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ đến mục đích.
  • Hai là tự hành khổ mình, khổ đau, không xứng bậc Thánh, không liên hệ đến mục đích.

Xa lìa hai cực đoan này là con đường Trung đạo do Như Lai chánh giác, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.”
Thế Tôn đã thuyết Tứ Thánh Đế, tức là bốn sự thật: Khổ là gì (Khổ Thánh Đế), nguyên nhân huân tập khổ đó (Khổ Tập Thánh Đế), sự diệt trừ hoàn toàn nguyên nhân sinh khổ (Khổ Diệt Thánh Đế) và con đường tu tập để đưa đến khổ diệt (Khổ Diệt Đạo Thánh Đế, tức là Thánh đạo 8 ngành). Thế Tôn chỉ ra mỗi “Đế” có 3 giai đoạn nhận thức liên quan, gọi là Ba chuyển (Thị chuyển, Khuyến chuyển, Chứng chuyển), cụ thể là:

  • Khổ Thánh Đế: đây là Khổ; Khổ này cần phải liễu tri; Khổ này đã được liễu tri.
  • Khổ Tập Thánh Đế: đây là Khổ tập; Khổ tập này cần phải đoạn tận; Khổ tập này đã được đoạn tận.
  • Khổ Diệt Thánh Đế: đây là Khổ diệt; Khổ diệt này cần phải tác chứng; Khổ diệt này đã được tác chứng.
  • Khổ Diệt Đạo Thánh Đế: đây là Đạo đưa đến khổ diệt; Đạo này cần phải tu tập; Đạo này đã được tu tập.

Cho đến khi nào Tri kiến như thật của Như Lai về 4 Thánh đế này với 3 chuyển và 12 hành tướng như vậy đã được khéo thấy biết một cách hoàn toàn thanh tịnh, thì khi đó tri kiến khởi lên trong Ta: “Bất động là tâm giải thoát của Ta. Ðây là đời sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa.”
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Chúng năm Tỳ-kheo hoan hỷ, tín thọ lời Phật dạy. Trong khi lời dạy này được tuyên bố, Tôn giả Kiều-trần-như (Koṇḍañña) khởi lên pháp nhãn thanh tịnh, không cấu uế như sau: “Phàm vật gì được tập khởi, tất cả pháp ấy cũng bị đoạn diệt”

Và khi Pháp luân này được Thế Tôn chuyển vận như vậy, lần lượt từ thấp đến cao, chư Thiên 3 cõi lớn tiếng nói lên: “Nay vô thượng Pháp luân này được Thế Tôn ở Ba-la-nại (Bārāṇasī), chỗ Tiên đọa xứ (Isipatana), tại Lộc Uyển (Migadāya), chuyển vận một Pháp luân chưa từng được ai chuyển vận, Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, hay bất cứ một ai ở đời.”

Như vậy, trong sát-na ấy, trong khoảnh khắc ấy, trong giây phút ấy, tiếng ấy lên đến Phạm thiên giới. Và mười ngàn thế giới chuyển động, rung động, chuyển động mạnh. Và một hào quang vô lượng, quảng đại phát chiếu ra ở đời, vượt quá uy lực chư Thiên. Kinh Chuyển Pháp Luân (SN 56.11 Dhamma- cakkappavattana-Sutta)

2. Các giáo lý cốt lõi

  • Gồm 58 thế pháp cần được liễu tri và tu thập được trình bày chi tiết ở trang Tư Tuệ – Phần 7.

Trong suốt 49 năm vận chuyển bánh xe Pháp (từ năm 593 đến năm 544 TCN), Đức Thế Tôn đã thiết lập một Tăng-đoàn (Saṅgha) thanh tịnh. Ngài dẫn dắt hội chúng gồm hơn 1.250 vị Đại A-la-hán (Arahant) cùng vô số thiên nhân, cư sĩ chứng các Thánh quả. Trình tự quy ngưỡng của các đại đệ tử và cư sĩ hộ pháp cốt lõi diễn ra theo trình tự như sau:

1. Khởi nguyên tại Lộc Uyển (Migadāya)

Sau khi chứng đạo, Đức Thế Tôn bộ hành bộ đến Lộc Uyển (Migadāya), gần thành Ba-la-nại (Bārāṇasī). Tại đây, Ngài sơ chuyển Pháp luân, tuyên thuyết về Bốn Thánh Đế.

  • Aññā Koṇḍañña (A-nhã Kiều-trần-như) : chứng đắc Pháp nhãn ngay trong thời pháp đầu tiên, trở thành vị đệ tử ngộ đạo đầu tiên, còn 4 vị còn lại đắc Pháp nhãn sau đó vài ngày.
  • Năm vị Tỳ-kheo: Sau khi nghe tiếp bài Kinh Vô Ngã Tướng (SN 22.59 Anattalakkhaṇa Sutta), cả năm vị (Koṇḍañña, Vappa, Bhaddiya, Mahānāma, Assaji) đồng đoạn tận lậu hoặc, chứng quả A-la-hán (Arahant). Giáo đoàn sơ khai chính thức có 5 vị Thánh tăng.

2. Tiếp nhận Công tử Da-xá (Yasa) và 54 thiện nam

  • Tại Ba-la-nại (Bārāṇasī), có một trưởng giả tử, tên là Yasa hưởng đủ năm món dục lạc. Một đêm, khi thức giấc thấy đám hầu thiếp nằm ngủ nhếch nhác, Yasa khởi tâm kinh cảm, chán nản nên đã bỏ nhà đi lang thang hướng đến chỗ Tiên-đọa-xứ (Isipatana), Lộc-uyển (Migadāya).
    Vào lúc này Thế Tôn đang đi kinh hành vào buổi sáng, khi nghe Yasa nói thật là khổ, thật là chán, Thế Tôn gọi Yasa có việc này không chán, không khổ. Nghe nói như thế Yasa mừng rỡ đi đến đảnh lễ Thế Tôn và sau khi đảnh lễ Yasa ngồi xuống một bên. Thế Tôn đã thuyết cho Yasa bài Pháp tuần tự (Anupubbīkathā) và Tứ Diệu Đế..
  • Pháp tuần tự (Anupubbīkathā): thực hành hạnh bố thí với tâm rộng mở và giữ gìn không phạm giới cấm để không làm hại người, hại mình và đón nhận quả báo sinh vào các cõi trời hưởng thiên lạc. Tuy nhiên sự say đắm dục lạc thế gian có thể đưa ta đọa lạc khi mạng chung. Do đó sự cần thiết phải khởi tâm cầu xuất thế gian Pháp để thoát khỏi sinh tử luân hồi.
  • Tứ Diệu Đế: Sau khi quan sát tâm của người nghe đã sẵn sàng, nhu nhuyễn, hoan hỷ và tịnh tín phát khởi, Thế Tôn mới thuyết giảng về Tứ Diệu Đế.
  • Ngay lúc ấy, Yasa khởi lên Pháp nhãn thanh tịnh, nhận ra tính chất sinh diệt của vạn pháp và chứng quả Dự lưu (Sotāpatti).
  • Khi người cha lần theo dấu vết giầy của người con đã đưa ông đi đến chỗ Thế Tôn, nhưng không thấy Yasa (do bị thần lực của Thế Tôn ngăn che). Sau khi đảnh lễ và ngồi xuống một bên, ông được Thế Tôn thuyết giảng bài Pháp tuần tự (Anupubbīkathā) và Tứ Diệu Đế (như trên) rồi cũng đắc Pháp nhãn thanh tịnh và xin quy y Tam Bảo, trở thành nam cư sĩ (Upāsaka).
  • Trong lúc ngồi nghe Đức Thế Tôn thuyết pháp cho cha mình, Yasa quán chiếu sâu sắc theo lời dạy, tâm không còn chấp thủ, giải thoát hoàn toàn khỏi các lậu hoặc và chứng quả A-la-hán (Arahant). Sau khi nghe tin trưởng giả tử Yasa đã xuất gia, bốn người bạn thân cùng năm mươi trưởng giả tử khác tìm đến và được Yasa lần lượt dẫn đến nghe Thế Tôn thuyết pháp. Toàn bộ năm mươi bốn vị này sau khi nghe bài Pháp tuần tự (Anupubbīkathā) và Tứ Diệu Đế, tất cả đều chứng đắc quả vị A-la-hán (Arahant) và xin xuất gia. Sự kiện này đã nâng quy mô tăng đoàn lúc bấy giờ lên 61 vị Thánh tăng.

3. Khai thị nhóm Ba mươi công tử vương tôn (Bhaddavaggiya)

  • Trên đường đi đến xứ Ưu-lâu-tần-loa (Uruvelā), Đức Thế Tôn có đi ngang qua một khu rừng bông vải (Kappāsika). Vào lúc Đức Thế Tôn đang ngồi dưới một gốc cây thì có 30 công tử thuộc nhóm Hạnh Phúc (Bhaddavaggiya) đến gần và hỏi Ngài có thấy một người phụ nữ mang theo nhiều đồ đạc đi ngang qua hay không. Họ giải thích rằng họ đã cùng vợ vào rừng để vui chơi, và vì trong nhóm có một người chưa lập gia đình nên họ đã thuê một cô kỹ nữ đi cùng để hầu hạ. Người phụ nữ này đã lợi dụng lúc họ lơ đễnh để lấy sạch các món đồ quý giá rồi bỏ trốn. Khi phát hiện sự việc, ba mươi vị công tử này liền đi tìm cô ta.
  • Đức Thế Tôn liền bảo họ: ‘Các công tử nghĩ sao? Điều gì tốt hơn cho các ông: đi tìm một người phụ nữ hay đi tìm lại chính mình?‘. Họ đáp rằng việc tìm lại chính mình là tốt hơn. Nghe vậy, họ liền ngồi xuống, và Đức Thế Tôn đã thuyết giảng cho họ một bài Pháp tuần tự (Anupubbīkathā) và Tứ Diệu Đế (như trên). Sau khi nghe Chánh pháp, các chàng trai ấy liền đắc Pháp nhãn thanh tịnh, chứng quả Dự lưu (Sotāpattiphala), rồi đồng xin xuất gia dưới sự che chở của Đức Thế Tôn và được thọ đại giới qua lời gọi ‘Ehi Bhikkhu‘ (Hãy lại đây, này Tỳ-kheo).

4. Thu phục Ba anh em Tôn giả Ca-diếp (Kassapa) thờ lửa

Tại núi Tượng Đầu (Gayāsīsa), xứ Ưu-lâu-tần-loa (Uruvelā), Đức Thế Tôn thuyết bài Kinh Bị Bốc Cháy (SN 35.28 Ādittapariyāya Sutta) nhiếp phục giáo phái bện tóc thờ thần lửa có tầm ảnh hưởng lớn nhất thời bấy giờ:

  • Uruvelā Kassapa (Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp): cùng 500 đệ tử.
  • Nadī Kassapa (Na-đề Ca-diếp): cùng 300 đệ tử.
  • Gayā Kassapa (Già-da Ca-diếp): cùng 200 đệ tử.

Toàn bộ 3 anh em và 1.000 đồ chúng đồng rũ bỏ ba món lửa độc (tham, sân, si) và đắc quả vị A-la-hán (Arahant) tối hậu.

5. Hóa độ Đức vua Tần-bà-sa-la (Bimbisāra) và nhận Tịnh xá đầu tiên

Sau khi thu phục vào tăng đoàn thêm 1.000 vị, Đức Thế Tôn dẫn dắt đại chúng tiến vào thủ đô vương quốc Ma-kiệt-đà (Magadha). Ngài thuyết bài Pháp tuần tự (Anupubbīkathā)Tứ Diệu Đế đếkhiến Đức vua Tần-bà-sa-la (Bimbisāra) cùng mười một vạn thính chúng chứng quả Dự lưu (Sotāpanna) . Để làm nơi trú ngụ thanh tịnh cho Giáo đoàn, Đức vua chính thức hiến cúng khu rừng tre Trúc Lâm (Veḷuvana) để xây tịnh xá. Đây là ngôi tịnh xá đầu tiên trong lịch sử, tạo bệ đỡ vững chãi cho Tăng đoàn an trú hoằng pháp.

6. Tiếp nhận Hai vị Thượng thủ Đệ tử và 250 môn đồ

Khi Đức Phật an trú tại tịnh xá Trúc Lâm (Veḷuvana), Tôn giả Xá-lợi-phất (Sāriputta) quan sát Tỳ-kheo A-thắng (Assaji) đang đi khất thực trong thành Vương Xá (Rājagaha) với các oai nghi thanh tịnh nên đã đến chào và hỏi Tôn giả Assaji ai là đạo sư và giáo pháp là gì? Sau khi nghe Tôn giả Assaji nói Thế Tôn là bậc đạo sư, Tôn giả Xá-lợi-phất (Sāriputta) mong muốn được nghe về giáo pháp. Tôn giả Assaji nói mình mới được thọ giáo không được bao lâu nên chỉ có thể nói tóm tắt như sau “Các pháp do nhân duyên mà sanh, cũng do nhân duyên mà diệt, Thầy của tôi là một đại Sa môn, thường thuyết giảng như thế”. Sau khi nghe giáo pháp tóm tắt này, Tôn giả Xá-lợi-phất (Sāriputta) đã chứng đắc Sơ quả (Sotāpanna). Ngài cùng người bạn chí cốt là tôn giả Mục-kiền-liên (Moggallāna) dẫn theo 250 bạn đồng môn (môn đồ cũ của đạo sĩ Sañjaya) tiến thẳng về tịnh xá Trúc Lâm (Veḷuvana) để quy y Phật. Không bao lâu gia nhập tăng đoàn hai Ngài chứng quả A-la-hán (Arahant). và trở thành hai vị Thượng thủ Đệ tử Tả hữu của Tăng đoàn.

7. Sự kiện ngộ đạo đặc biệt của Tôn giả Đại Ca-diếp (Mahā Kassapa)

Cũng tại Vương Xá (Rājagaha), đại phú trưởng giả Pipphali, thánh danh là Đại Ca-diếp (Mahā Kassapa). Sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Một hôm trên đường đi, tôn giả thấy Thế Tôn ngồi tại ngôi đền Đa Tử (Bahaputta) ở giữa đoạn đường từ thành Vương Xá (Rājagaha) đến Nāḷanda (Na-lan-đà). Rồi ý nghĩ này khởi lên trong Tôn giả “Nếu tôi có gặp được bậc Đạo Sư, Tôi mong rằng vị này là Đạo sư của tôi”. Ngay tại chỗ ấy Tôn giả đã cúi đầu đảnh lễ dưới chân Thế Tôn và bạch rằng: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn là Đạo Sư của con, con là đệ tử.”

Ngay lúc ấy Thế Tôn bảo Tôn giả Ca Diếp hãy lắng nghe và thực hành ba điều mà Ngài đã tự mình chứng ngộ với đại ý như sau:

  • Phải khởi tâm dõng mãnh, thiết lập vững chắc tâm tàm quý cho dù là đối với các bậc trưởng lão, trung niên hay thiếu niên.
  • Đối với pháp thiện khi phát hiện hãy nhiệt tâm tĩnh giác lắng nghe trọn vẹn và khéo léo tác ý để liễu tri pháp ấy.
  • Không dừng chánh niệm thân hành đi kèm với hỷ lạc.

Sau khi giáo giới như thế, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng lên và ra đi còn Tôn giả một mình quán chiếu về 3 điều ấy 7 ngày liên tiếp, đến ngày thứ 8 chánh trí khởi lên.

Rồi một hôm Tôn giả thấy Thế Tôn từ trên đường bước xuống và đi đến một gốc cây, Tôn giả đi đến và gấp tấm y Tăng-già-lê làm bằng vải cắt của mình và thỉnh Thế Tôn ngồi trên ấy. Sau khi Thế Tôn chấp nhận ngồi trên ấy, Tôn giả xin cúng dường Thế Tôn tấm y ấy và Thế Tôn hỏi Tôn giả có muốn dùng tấm y phấn tảo được làm bằng vải gai thô đáng bị quăng bỏ của Thế Tôn đang dùng không. Và Tôn giả đáp rằng “con sẽ dùng”. – SN 16.11 Cīvarasutta – Kinh Y Áo.

8. Sự quy y của Trưởng giả Cấp Cô Độc (Anāthapiṇḍika)

Trưởng giả đại phú Tu-đạt-đa (Sudatta), biệt hiệu là Cấp Cô Độc (Anāthapiṇḍika) là một đại thương gia ở thành Xá-vệ (Sāvatthī) thuộc nước Kiều-tát-la (Kosala). Ông có việc đi đến thành Vương Xá (Rājagaha), thủ đô vương quốc Ma-kiệt-đà (Magadha) và ở nhà của người anh rể cũng là một đại trưởng giả. Vào thời điểm ấy thấy anh rể đang tất bậc đại lễ, hỏi ra mới biết là chuẩn bữa ăn thọ trai để cúng dường Đức Phật (Buddha) và Tăng đoàn vào sáng hôm sau. Đêm đó Ông thao thức không ngủ được nên đã một mình đi về rừng Sinh Lâm (Sītavana) nơi Đức Phật đang trú ngụ. Tại đây Ông được Đức Phật thuyết pháp và chứng Sơ quả Dự-lưu (Sotāpanna).
Để thỉnh Đức Phật về phương Bắc hoằng pháp, ông đã dát vàng kín mặt đất khu vườn của Thái tử Kỳ-đà (Jeta) để mua khu vườn, xây dựng nên Tịnh xá Kỳ Viên (Jetavana) đại quy mô tại kinh thành Xá-vệ (Sāvatthī), mở ra trung tâm hoằng pháp lớn nhất lịch sử Phật giáo.

9. Hóa độ Đức vua Ba-tư-nặc (Pasenadi) xứ Kiều-tát-la (Kosala)

Khi Đức Phật ngự đến phương Bắc an trú tại tịnh xá Kỳ Viên (Jetavana), nhờ sự gieo duyên kiên trì của Hoàng hậu Mạt-lợi (Mallikā), Đức vua Ba-tư-nặc (Pasenadi) đã rũ bỏ tà kiến và sự kiêu mạn của một đại vương để đến đỉnh lễ Đức Thế Tôn. Qua bài Kinh Tuổi trẻ (SN 3.1 Dahara Sutta) về bốn điều nhỏ bé không được khinh thường, nhà vua hoàn toàn phục chí, xin quy y làm đệ tử cư sĩ và trở thành bậc đại hộ pháp vương quyền vĩ đại nhất của Giáo đoàn ở vương quốc phía Bắc.

10. Quy ngưỡng Hoàng tộc Thích-ca tại Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavatthu)

Sau khi thiết lập xong hai đại tịnh xá Trúc Lâm (phía Nam) và Kỳ Viên (phía Bắc), Đức Phật dẫn đại giáo đoàn hưng thịnh bộ hành bộ trở về thăm quê hương. Sự kiện ghi dấu cuộc đại chuyển hóa tâm linh khi toàn bộ dòng tộc Thích-ca (Sākyā) quy hướng Chánh pháp:

  • Phụ vương Tịnh Phạn chứng các Thánh quả thượng vị. Hoàng tử Nan-đà (Nanda) và vương tử La-hầu-la (Rāhula) lần lượt xuất gia.
  • Nhóm 6 vương tử kiệt xuất bậc nhất hoàng tộc gồm: A-nan-đà (Ānanda), A-na-luật-đà (Anuruddha), Bạt-đề (Bhaddiya), Nan-đề (Nandiya), Kim-tỳ-la (Kimbila), và Đề-bà-đạt-đa (Devadatta) đồng thuận từ bỏ vinh hoa để xuất gia.
  • Để phá trừ tâm kiêu mạn dòng tộc, các vương tử để người thợ cạo hạ tiện là Ưu-ba-ly (Upāli) xuống tóc thọ giới trước nhằm làm sư huynh. Tôn giả Upāli sau này chứng quả A-la-hán và đắc chứng danh hiệu “Trì luật đệ nhất”.

Song song với việc phát triển Tăng đoàn, Đức Thế Tôn đã khai mở con đường xuất gia cho nữ giới, thành lập Giáo đoàn Tỳ-kheo-ni (Bhikkhunī-saṅgha) thanh tịnh. Đây là một bước ngoặt bình đẳng giới mang tính cách mạng trong lịch sử tôn giáo cổ đại, giúp vô số nữ nhân chứng đắc các Thánh quả tối hậu:

1. Khởi nguyên tại thành Tỳ-xá-ly (Vesālī)

Sau khi Phụ vương Tịnh Phạn (Suddhodana) băng hà, Di mẫu Ma-ha-ba-xà-ba-đề (Mahāpajāpatī Gotamī) cùng 500 vương nữ dòng Thích-ca thiết tha tầm cầu con đường giải thoát. Để biểu thị tâm kiên định sau ba lần bị từ chối thử thách, hội chúng nữ giới đã tự cạo bỏ râu tóc, khoác áo hoại sắc, đi chân trần bực hành bộ hàng trăm dặm đường từ Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavatthu) đến tịnh xá Đại Lâm (Mahāvana Vihāra), thành Tỳ-xá-ly (Vesālī).

Thấu cảm trước quyết tâm của hội chúng, tôn giả Ānanda đã thay mặt dâng lời thỉnh cầu. Đức Thế Tôn chính thức xác chứng khả năng chứng đắc Thánh quả bình đẳng của nữ giới và chấp thuận cho phép thành lập Ni đoàn, với điều kiện Di mẫu Gotamī trọn đời lĩnh thụ Bát Kính Pháp (Garudhamma) để bảo hộ Chánh pháp. Di mẫu hoan hỷ đón nhận, Ni đoàn chính thức khai sinh. Không lâu sau đó, Di mẫu cùng năm trăm vương nữ đồng đoạn tận lậu hoặc, chứng quả vị A-la-hán (Arahant).

2. Sự xuất gia và chứng ngộ của Công chúa Da-du-đà-la (Yasodharā)

Nối gót Di mẫu Gotamī, công chúa Da-du-đà-la (Yasodharā) – người bạn đời thuở thanh xuân của Thái tử Tất-đạt-đa – cũng từ bỏ hoàng cung dấn thân vào Ni đoàn với thánh danh Bhaddā Kaccānā.

Bằng ý chí tu tập kiên cường và công đức Ba-la-mật sâu dày, Tỳ-kheo-ni Bhaddā Kaccānā nhanh chóng đập tan mọi kiết sử, chứng đắc quả vị A-la-hán tối hậu với đầy đủ Tứ tuệ phân tích và Lục thông. Đặc biệt, Thánh ni Bhaddā Kaccānā đạt đến khả năng thấu suốt vô lượng kiếp quá khứ một cách dễ dàng, được Đức Thế Tôn tán thán và phân định ngôi vị “Đại thần thông đệ nhất” trong hàng Tỳ-kheo-ni.

3. Các bậc Tối thắng trong hàng Ni chúng

Sự hưng thịnh của Ni đoàn tiếp tục được khẳng định qua sự xuất hiện của những bậc thánh Ni kiệt xuất, được Đức Phật phân ngôi vị quán quân trên từng phương diện:

  • Tỳ-kheo-ni Thái Hòa (Khemā): Hoàng hậu của đức vua Tần-bà-sa-la (Bimbisāra), chứng đắc A-la-hán (Arahant) ngay tại chỗ khi đang mặc hoàng phục; được phân ngôi vị “Trí tuệ đệ nhất” (Thượng thủ đệ tử Tả hữu bên Ni).
  • Tỳ-kheo-ni Liên-Hoa-Sắc (Uppalavaṇṇā): bậc thánh Ni có dung mạo như hoa sen xanh, chứng đắc “Thần thông đệ nhất” (Thượng thủ đệ tử Tả hữu bên Ni).
  • Tỳ-kheo-ni  Paṭācārā: người vượt qua nỗi đau mất toàn bộ gia đình để chứng quả vị “Trì luật đệ nhất”, người dẫn dắt hàng trăm nữ nhân lầm lạc quay về bờ giác.
  • Tỳ-kheo-ni Kisā Gotamī (Gotamī gầy gò): nổi tiếng với điển tích “hạt cải chữa người chết”, chứng đắc danh hiệu “Đầu-đà đệ nhất” với lối sống tri túc, giản dị.

Bên cạnh hai giáo đoàn xuất gia, Đức Thế Tôn đã xây dựng một đạo quân cư sĩ tại gia vô cùng hùng hậu. Trong hàng ngũ Cận sự nam (Upāsaka) và Cận sự nữ (Upāsikā), có những bậc đại trí, đại phú đã chứng đắc từ Sơ quả đến Tam quả, được Đức Phật tuyên phong danh hiệu tối thắng trên từng phương diện:
1. Hàng Cận sự nữ (Upāsikā) tiêu biểu

  • Bà Tỳ-xá-khương (Visākhā) – Danh hiệu “Nữ thí chủ đệ nhất”: Còn được gọi là Lộc Mẫu (Mẹ của Migāra – do có công chuyển hóa ông bố chồng đại phú tên Migāra theo Phật giáo). Bà chứng quả Dự lưu từ năm 7 tuổi, là người đã cúng dường ngôi đại tịnh xá Lộc Mẫu Giảng Đường (Migāramātupāsāda) tại thành Xá Vệ (Sāvatthī). Bà là bậc hộ pháp toàn diện, lo lắng từng tấm y, bát cháo, thuốc men cho toàn thể Tăng-già và Ni-già suốt cuộc đời.
  • Hoàng hậu Mạt-lợi (Mallikā) – Danh hiệu “Trí tuệ biện tài đệ nhất”: Chánh hậu của đức vua Ba-tư-nặc nước Kiều-tát-la. Bà là người có đạo tâm kiên cố, thấu suốt giáo lý và có tài hùng biện trác tuyệt. Bà chính là người gieo duyên, định hướng tuệ giác giúp nhà vua dẹp bỏ tà kiến để quy y Tam bảo.
  • Nữ cư sĩ Khất-thủ-đa-la (Khujjuttarā) – Danh hiệu “Đa văn đệ nhất”: Vốn là một người hầu gái có tật gù lưng trong hoàng cung của vua Udena. Nhờ năng lực ghi nhớ siêu phàm, mỗi lần đi nghe Đức Phật thuyết pháp về, bà đều trùng tuyên (kể lại) một cách hoàn hảo cho hoàng hậu Sāmāvatī và các cung nữ nghe. Tập hợp các bài giảng của bà chính là nền tảng cấu thành nên bộ Kinh Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka) trong Kinh tạng ngày nay.
  • Nữ cư sĩ Sa-ma-va-ty (Sāmāvatī) – Danh hiệu “Tâm từ đệ nhất”: Hoàng hậu của đức vua Udena nước Vamsa. Bà chứng quả Dự lưu nhờ nghe pháp từ người hầu gái Khujjuttarā. Bà nổi tiếng với tình thương bao la, luôn rải tâm từ ái đến toàn bộ chúng sinh, ngay cả với người hãm hại mình.
  • Nữ cư sĩ Am-ba-pa-li (Ambapālī) – Biểu tượng chuyển hóa và bình đẳng:Bậc kỹ nữ vương vinh có sắc đẹp và tài sản bậc nhất kinh thành Tỳ-xá-ly. Vào những tháng cuối đời của Đức Thế Tôn, bà đã vượt qua sự tranh giành của các vương tử hoàng gia để được cúng dường vật thực và hiến cúng toàn bộ khu Vườn Xoài (Ambapālīvana) làm tịnh xá cho Phật và chúng Tăng an trú. Sự kiện này là minh chứng đỉnh cao cho tinh thần bình đẳng, không phân biệt giai cấp của Phật giáo. Về sau, bà xuất gia vào Ni đoàn và chứng đắc quả vị A-la-hán. 

II. Hàng Cận sự nam (Upāsaka) tiêu biểu

  • Trưởng giả Cấp Cô Độc (Anāthapiṇḍika) – Danh hiệu “Nam thí chủ đệ nhất”: Tên thật là Tu-đạt (Sudatta), bậc đại phú trưởng giả giàu lòng trắc ẩn, luôn chu cấp cho người nghèo khổ và cô độc. Ông là người đã dát vàng mua khu vườn của Thái tử Jeta để xây dựng Tịnh xá Jetavana, hộ độ vật thực trọn vẹn cho Đức Phật và Tăng đoàn qua 24 mùa an cư kiết hạ.
  • Trưởng giả Chất-đa (Citta) – Danh hiệu “Thuyết pháp đệ nhất”: Một bậc cựu trào cư sĩ tại gia ở thành Macchikāsaṇḍa, chứng đắc quả vị Bất lai (Anāgāmī) và thành tựu bốn pháp vô ngại giải. Ông có tuệ giác siêu việt và khả năng diễn giải giáo pháp sâu sắc đến mức Đức Phật đã tán thán ông là bậc mẫu mực để các cận sự nam noi theo, và tôn phong ông là vị cư sĩ giảng sư lỗi lạc nhất, có thể nhiếp phục cả các tu sĩ ngoại đạo.
  • Y sĩ Kỳ-bà (Jīvaka Komārabhacca) – Danh hiệu “Thần y hộ tăng đệ nhất”: Bậc ngự y kiệt xuất của cung đình Ma-kiệt-đà, chứng quả Dự lưu. Ông tự tay chăm sóc sức khỏe, chữa trị các trọng bệnh cho Đức Phật và đại chúng Tăng đoàn. Ông cũng chính là người hiến cúng khu rừng xoài của mình để xây dựng Tịnh xá Xoài Viên (Jīvakambavana) tại thành Vương Xá (Rājagaha).
  • Hai thương gia Tapussa và Bhallika – Danh hiệu “Quy y đầu tiên”: Hai anh em thương gia người Miến Điện, là những người đầu tiên trong lịch sử nhân loại được cúng dường vật thực (bánh bột và mật ong) lên Đức Phật ngay sau khi Ngài thành đạo dưới cội Bồ-đề. Các vị này quy y theo công thức Nhị bảo (Quy y Phật và Quy y Pháp, vì lúc đó chưa có Tăng đoàn).

Trong lịch sử Phật giáo, hệ thống giới luật không được ban hành ngay từ đầu mà được hình thành theo nguyên tắc “Tùy phạm tùy chế” (Xảy ra lỗi đến đâu, chế giới đến đó).

Tiến trình này được chia thành hai giai đoạn rõ rệt:

1. Giai đoạn Vô Sự (12 năm đầu tiên)

  • Đặc điểm: Tăng đoàn thời sơ khai gồm toàn các bậc thượng căn, thượng trí, thanh tịnh và tự giác tu tập cao.
  • Hình thức quản lý: Đức Phật chưa ban hành giới luật cụ thể. Ngài chỉ tuyên thuyết bài kệ “Giáo giới Ba-la-đề-mộc-kha(Ovāda -pātimokkha) trong các ngày lễ Bố-tát để định hướng hành vi:
    “Không làm các điều ác,
    Thành tựu các hạnh lành,
    Giữ tâm ý trong sạch,
    Chính lời Đức Phật dạy.”

2. Giai đoạn Tùy Phạm Tùy Chế (Từ năm thứ 13 trở đi)

  • Nguyên nhân: Tăng đoàn phát triển quá nhanh, thu nhận nhiều thành phần xã hội, bắt đầu xuất hiện những hành vi buông lung, làm tổn hại đến thanh danh giáo đoàn.
  • Tội đầu tiên xuất hiện: Tỳ-kheo Tu-đề-na (Sudinna) vì áp lực gia đình đã phạm vào hành vi bất tịnh (quan hệ nam nữ). Từ sự kiện này, Đức Phật chính thức chế định điều giới đầu tiên (giới dâm) và bắt đầu chuỗi hành trình xây dựng Tạng Luật.

Mỗi khi ban hành một điều giới, Đức Phật luôn tuyên bố trước đại chúng 10 lý do tối thắng (được ghi chép trong Chương Trọng Yếu – Tạng Luật). Mười lý do này có thể đúc kết thành 3 mục tiêu cốt lõi:

1. Ổn định và quản lý Tăng đoàn

  • Hộ trì Tăng già thanh tịnh: Giúp đại chúng có hàng rào ngăn ngừa các ác pháp.
  • Ổn định Tăng đoàn: Tạo sự đồng thuận, hòa hợp và bình đẳng giữa muôn vàn thành phần xuất gia.
  • Nhiếp phục người ngoan cố: Răn đe và xử lý những cá nhân cố tình làm loạn giáo đoàn.
  • Giúp người đức hạnh an lạc: Bảo vệ những hành giả tinh tấn không bị quấy rầy.

2. Bảo hộ và thúc đẩy tiến trình tu tập cá nhân

  • Chế ngự lậu hoặc ngay trong hiện tại: Ngăn chặn các quả báo xấu ngay trong kiếp sống này.
  • Phòng ngừa lậu hoặc trong tương lai: Đóng chặt các cửa ngõ dẫn đến đọa xứ trong các đời sau.
  • Nuôi dưỡng lòng tự trọng và chánh niệm: Giới luật là bệ đỡ sinh khởi Thiền định và Tuệ giác.

3. Bảo vệ mạng mạch Chánh pháp đối với xã hội

  • Gieo tịnh tín cho người chưa tin: Giúp người thế gian sinh khởi lòng kính ngưỡng khi nhìn vào oai nghi của tu sĩ.
  • Tăng trưởng tịnh tín cho người đã tin: Củng cố niềm tin sâu sắc cho các hàng cư sĩ hộ pháp.
  • Giúp Chánh pháp trường tồn: Tăng đoàn có kỷ khương thì giáo pháp mới lưu truyền vạn thế.

Dưới đây là bảng so sánh sự giống và khác nhau dựa trên cấu trúc cốt lõi Giới bổn (Pātimokkha) của Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni theo hệ phái Nam Truyền.

1. Sự giống nhau

  • Bản chất cốt lõi: Cả hai bộ giới luật đều có chung cấu trúc phân loại tội danh từ nặng đến nhẹ (Bắt đầu bằng nhóm tội trục xuất vĩnh viễn Pārājika cho đến các giới oai nghi nhỏ Sekhiya).
  • Mục đích giải thoát: Đều tập trung đoạn trừ Tam độc (Tham, Sân, Si) thông qua việc thúc liễm Thân – Khẩu – Ý.
  • Sinh hoạt giáo đoàn: Tăng và Ni đều phải thực hiện đầy đủ các kỳ lễ Bố-tát (tụng giới), An cư kiết hạ và Tự tứ giống nhau.

2. Sự khác biệt cụ thể

Giới luật

Tăng

Ni

Hình thức xử lý

Bất cộng trụ (Pārājika)

4

8

Trục xuất khỏi Tăng đoàn

Tăng tàn (Saṅghādisesa)

13

17

Sám hối, sống biệt trú

Bất định (Aniyata)

2

0

Định tội theo nhân chứng

Xả đọa (Nissaggiya Pācittiya)

30

30

Tịch thu vật dụng, sám hối

Đơn đọa (Pācittiya)

92

166

Thành tâm sám hối

Ba-la-đề-đề-xá-ni (Pāṭidesanīya)

4

8

Phát lộ trước vị khác

Chúng học / Oai nghi (Sekhiya)

75

75

Thúc liễm oai nghi

Diệt tranh pháp (Adhikarana-samatha)

7

7

Giải quyết tranh chấp

TỔNG CỘNG

227

311

 

3. Tại sao giới luật của Ni lại nhiều hơn Tăng?

  • Bảo vệ an toàn thân thể: Thời cổ đại Ấn Độ, phụ nữ đi một mình rất dễ bị bạo lực hoặc xâm hại. Nhiều giới luật của Ni được Đức Phật chế ra nhằm mục đích bảo vệ an toàn tính mạng và danh hạnh cho các sư cô (ví dụ: không được đi đêm một mình, không được ngủ lại nhà cư sĩ…).
  • Tâm lý và tập quán xã hội: Giới nữ thời bấy giờ thường bị ràng buộc bởi nhiều tập tục khắt khe của xã hội Bà-la-môn. Đức Phật phải chế giới để Ni chúng không bị người đời dị nghị, dèm pha, từ đó bảo vệ uy tín cho toàn bộ giáo đoàn.
  • Bảo hộ Chánh pháp (Bát Kính Pháp – Garudhamma): Đây là chiếc đập ngăn lũ giúp Ni đoàn nương tựa vững chãi vào Tăng đoàn, bảo đảm sự kính trọng lẫn nhau và duy trì mạng mạch Phật giáo trường tồn.

Trăm năm sống với người đần

không bằng một phút ở gần người khôn