Phần TRẢ LỜI này tổng hợp các câu hỏi thường gặp và giải đáp chi tiết.
Nhấn dấu cộng (+) để mở rộng:
1. Ông có thể chia sẻ ý nghĩa của XGM và “Thập giác môn”?
- X là 10 trong tiếng La Mã, là Thập trong tiếng Hán Việt, còn G là giác, M là minh. Như vậy ghép lại là.
- Ngoài ra X trong toán học là một biến số cần giải, là một đối tượng của tâm trí. Nên X cũng mang ý nghĩa là Pháp sanh diệt, một đối tượng của tâm.
2. Cơ sở của Thập Pháp Môn là gì?
- Nội dung của Thập Giác Môn dựa theo chánh pháp của Đức Phật Thích Ca được Ngài thuyết giảng khi còn tại thế và 500 đệ tử của Ngài, những tôn giả đã chứng quả A La Hán kết tập và ghi chép thành kinh điển trong tiếng Pali tên là Nikaya. Trong đó lấy cảm hứng từ bài kinh trong Tăng chi bộ Lấy Căn Bản Với Thế Tôn (AN 10.58 Mulaka Sutta).
- Ngoài ra phần dẫn nhập của cánh cửa thứ nhất có đề cập đến một số tinh hoa của các bậc thánh nhân và chân nhân để lại cho hậu thế.
3. Ông đã tự mình giác ngộ giải thoát chưa hay vẫn trên con con đường giác ngộ giải thoát?
- Con vẫn còn đang trên đường giác ngộ giải thoát. Tâm nguyện của con là lan tỏa con đường giải thoát của Đức Phật cho tất cả chúng sinh. Có thể nhờ sự chia sẻ này mà có nhiều đọc giả hữu duyên được lợi lạc.
4. Làm sao biết ông biết mình đang thực hành đúng hướng?
Con học và y hành theo chánh pháp của Đức Thế Tôn và lấy giới luật làm thầy, nhờ vậy con không bị lạc lối. Ngoài ra khi đàm đạo hay nghe chia sẻ Pháp, con luôn ghi nhớ và thực hành theo 4 nguyên tắc sau:
- Y pháp bất y nhân: đừng thọ nhận giáo pháp chỉ vì hình tướng hoặc mối quan hệ của người chia sẻ, phải tham khảo chánh kinh, rồi tự truy vấn và thận trọng áp dụng và kiểm chứng kết quả.
- Y nghĩa bất y ngữ: nắm bắt cốt lõi của giáo pháp quan trọng hơn là bám vào câu từ rồi mắc kẹt trong pháp.
- Y nghĩa bất y ngữ: nắm bắt cốt lõi của giáo pháp quan trọng hơn là bám vào câu từ rồi mắc kẹt trong pháp.
- Y trí bất y thức: Tự mình như thật biết, như thật thấy Pháp, không phải chỉ là khái niệm vọng tưởng.
- Y liễu nghĩa, bất y bất liễu nghĩa: Chỉ thọ trì những giáo pháp đưa đến giác ngộ giải thoát, bỏ qua những giáo pháp còn sinh tử luân hồi.
5. Nếu thọ trì Thập Pháp Môn thì mất bao lâu để chứng đắc, và chứng đắc quả vị gì?
Câu Hỏi: Tôi được biết hiện nay có 2 trường phái chính: là trường phái tiểu thừa trường phái đại thừa (gồm hiển giáo và mật giáo). Theo đó trường phái đại thừa có để đưa hành giả đạt quả vị Bồ Tát trong thời nhanh nhất, còn hành giả theo trường phái tiểu thừa thì phải mất thời gian rất lâu mới đắc được quả vị A La Hán. Nếu thọ trì Thập Pháp Môn thì mất bao lâu để chứng đắc, và chứng đắc quả vị gì?
Trả lời:
- XGM dựa trên giáo pháp trong hệ thống kinh điển Nikaya, đưa đến giác ngộ giải thoát, chứng đắc quả vị A La Hán. Thời gian lâu hay mau không phụ thuộc vào mong cầu của hành giả mà dựa trên sự y hành và tinh tấn của hành giả. Giống như con gà mái ấp 8 trứng hay 12 trứng, nếu nó khéo léo và kiên trì ấp trứng đúng cách thì đến ngày đến giờ gà con sẽ tự mổ vỏ trứng chui ra mà không phụ thuộc việc mong cầu của gà mẹ. Còn nếu gà mẹ dù có thường xuyên mong cầu nhưng không khéo léo ấp trứng và thường bỏ bê việc ấp thì số trứng ấy sẽ không nở ra gà con.
- Như đã trình bày trong nội dung chia sẻ của XGM, tất cả các pháp đồng quy về Niết Bàn cho nên việc thọ nhận giáo pháp Đại thừa hay Tiểu thừa mà hiền giả đề cập thì tùy thuộc vào căn cơ, nhân duyên và hạnh nguyện của hành giả. Cũng cần nhớ đặc tính giáo pháp của đức Thế Tôn là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, được người trí tự mình giác hiểu. Pháp như là một chiếc bè và là ngón tay giúp hành giả không bị gặp nguy hiểm và lạc lối. Khi đã qua được bờ bên kia, tức bờ giác ngộ giải thoát rồi thì lúc đó hành giả không cần mang theo chiếc bè làm chi và có thể tự mình thắp đuốc mà đi.
Một trong những bất cập đối với một hành giả tu theo pháp môn “Đại thừa” là chỉ chú trọng tu tập tuệ quán hay “cái biết” mà không thanh tịnh giới, tín và hạnh nên không tăng trưởng trong chánh pháp, bị rơi vào tà kiến nhận lầm thức tri là tuệ tri. Bởi vì điều kiện tiên quyết để vào được định của sơ thiền là phải diệt trừ được 5 triền cái. Mà thiếu định thì không tăng trưởng tuệ được, nó như hai cánh của một con chim, nếu thiếu một cánh thì chim không thể bay. Ngoài ra hành giả cũng lưu ý sau khi thọ nhận giáo lý thì cần thiết là phải nhiệt tâm, tinh tấn thọ trì, việc thay đổi pháp môn thường xuyên cũng là biểu hiện của tâm hoài nghi do dự. Hậu quả là hành giả loay hoay, không tăng trưởng, bị hoang mang và thậm chí thối thất con đường tu tập.
6. Lấy gì để đảm bảo những chia sẻ của ông là đúng theo chánh Pháp của đức Phật Thích Ca và có giá trị?
Luôn truy vấn những Pháp được nghe, thấy là điều cần thiết trên con đường tu học. Nhưng các Pháp cần được giải thì tâm mới thông minh. Nếu tư tưởng không thông thì hành giả sẽ chần chừ do dự và không nhiệt tâm. Nội dung được XGM (Thập Giác Môn) đúc kết từ những giáo pháp thâm sâu trong bộ Kinh Nikāya, bao gồm các kinh có tên sau:
1. Trường Bộ Kinh (Dīgha Nikāya)
2. Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya)
- MN 18: Madhupiṇḍikasutta — Kinh Mật Hoàn
- MN 20: Vitakkasaṇṭhānasutta — Kinh An Trú Tầm
- MN 28: Mahāhatthipadopamasutta — Đại Kinh Dụ Dấu Chân Voi
- MN 43: Mahāvedallasutta — Kinh Đại Phương Quảng
- MN 44: Cūḷavedallasutta — Kinh Tiểu Phương Quảng
- MN 112: Chabbisodhanasutta — Kinh Sáu Thanh Tịnh
- MN 117: Mahācattārīsakasutta — Kinh Đại Tứ Thập
- MN 118: Ānāpānassatisutta — Kinh Niệm Hơi Thở Vào Hơi Thở Ra
- MN 119: Kāyagatāsatisutta — Kinh Thân Hành Niệm
- MN 140: Dhātuvibhaṅgasutta — Kinh Phân Biệt Giới
3. Tương Ưng Bộ Kinh (Saṃyutta Nikāya)
- SN 12.10: Gotamasutta — Kinh Gotama (Kinh Tiền Thân Đức Phật)
- SN 12.63: Puttemaṃsasutta — Kinh Thịt Đứa Con
- SN 22.54: Bījasutta — Kinh Hạt Giống
- SN 22.79: Khajjanīyasutta — Kinh Bị Nhai Nuốt
- SN 22.81: Pālileyyasutta — Kinh Tại Pārileyyaka
- SN 22.87: Vakkalisutta — Kinh Vakkali
- SN 48.10: Dutiyavibhaṅgasutta — Kinh Phân Tích Thứ Hai (Ngũ Căn)
- SN 56.11: Dhammacakkappavattanasutta — Kinh Chuyển Pháp Luân
4. Tăng Chi Bộ Kinh (Aṅguttara Nikāya)
Nội dung các kinh này sẵn có trên www.suttacentral.net được trình bày ngôn ngữ gốc Pali, Anh, Việt … Trong đó tiếng Việt là bản dịch của cố Hòa Thượng Thích Minh Châu. Khi đủ nhân duyên XGM sẽ đăng tải chia sẻ những nội dung tóm tắt những Kinh này lên website và các nền tảng không gian mạng cho đọc giả hữu duyên tham khảo.
7. Có mâu thuẩn không giữ việc nương tựa chánh pháp và lấy giới luật làm thầy để đạt được mục tiêu giải thoát, tự do?
- Khi chưa giác ngộ, tức còn bị gàng buộc thì ta cần nương tựa vào tri kiến của Đức Phật, bậc A la hán, Chánh đẳng giác thì ta mới biết được đường mà lội biết lối mà đi và giới luật để bảo vệ ta khỏi thế lực của Ma. Giống như người thợ mộc dùng con niêm nhỏ để đánh con nêm khác văng ra. Hành giả có thể tham khảo MN 20 Vitakkasaṇṭhānasutta (kinh An Trú Tầm).
8. Ông có tuyên bố đảm bảo gì cho những nội dung chia sẻ của Thập Giác Môn?
Con có thể tuyên bố tự tin tuyên bố các đảm bảo sau:
- Động cơ chia sẻ phát xuất từ tín thiện vì hạnh phúc của muôn loài chúng sinh;
- Nội dung chia sẻ dựa trên chánh pháp mà con đã tự mình đọc, hiểu và thọ trì;
- Tâm người chia sẻ hoàn toàn xả ly không mong cầu đối với kết quả của việc chia sẻ.
9. Hoạt động của Ông và tổ chức của Ông được vận hành và duy trì như thế nào?
- Tâm nguyện của con là làm con thuyền chuyên chở và là chiếc loa lan tỏa lời giáo huấn của đức Phật Thích Ca. Ngài vì lòng thương tưởng và hạnh phúc của chúng sinh mà đã tìm ra, thuyết giáo và để lại con đường để chúng sinh hành theo mà thoát khổ. Đó là lý do con xây dựng và phát triển website XGM này.
- Bên cạnh những nội dung chia sẻ trên website này con cũng sẽ tạo ra những nội dung thuyết trình và video có chủ để có liên quan đến việc hướng dẫn tu tập để cho hành giả hữu duyên tham khảo. Và con cũng thông qua phương tiện này để nhận được những thông tin phản hồi từ hành giả và các bậc giác giả hữu duyên.
11. Ông có nhận sự của các nhà tài trợ hay mạnh thường quân không?
Những nội dung chia sẻ được cung cấp hoàn toàn miễn phí cho đọc giả hữu duyên và các tài liệu chia sẻ không liên kết các quảng cáo để nhận hoa hồng để tránh phạm vào tà mạng là “buôn pháp của Phật”. Mọi sự tài chính của các đại thí chủ để xây dựng và duy trì website này là cần thiết và được tán thán vì nó góp phần lan tỏa chánh pháp của Đức Thế Tôn, Ngài đã tìm ra và thuyết giảng con đường giải thoát vì hạnh phúc và lòng thương tưởng chúng sinh hữu tình.
12. Tại sao có rất nhiều người tu theo giáo Pháp Phật, nhưng không thấy người chứng đạo?
- Câu hòi này hành giả nên tự hỏi chính mình, vì sao tu học đã lâu nhưng không tiến triển vẫn còn phiền não khổ đau?
- Có phải do việc hành còn bất cập hay thái quá không?
13. Cách tu học của Ông được thực hiện như thế nào?
- Con vẫn học theo cách thủ công truyền thống, là đọc tránh kinh, chép lại kinh, tuy duy, hồi quan tự kỷ và y hành theo lời chỉ dạy của Đức Thế Tôn.
14.Tại sao giáo pháp có sẵn, nhiều người cũng học và hành theo, nhưng ít người chứng quả?
Giữa biết, thấy và thực chứng là các vấn đề hoàn toàn khác nhau.
- Người biết đạo: là người do nghe pháp và học hỏi.
- Người hiểu đạo: sau khi biết đạo, người đó trao đổi, đàm đạo để hiểu đạo
- Người thấy đạo: Sau khi nghe, đàm đạo người đó thực hành theo và thấy được những gì được mô tả.
- Người đắc đạo: nghe, đàm đạo, thực hành và viên mãn.
Có thể có nhiều người đắc đạo, nhưng ta chưa có đủ nhân duyên để diện kiến họ.
15. Làm sao để biết được một người đã đắc đạo
Có một số tiêu chí được đức phật chỉ dạy, được tóm lược như sau:
- Qua chung sống, mới biết được giới hạnh.
- Qua giao tiếp (làm việc chung), mới biết được sự thanh tịnh.
- Qua nghịch cảnh (hoạn nạn), mới biết được nghị lực.
- Qua thảo luận, mới biết được trí tuệ.
- Đức Phật cũng nhấn mạnh rằng quá trình quan sát này phải diễn ra trong một thời gian dài, với sự chú tâm và bởi một người có trí tuệ.
16. Tại sao nội dung của XGM xoay quanh chủ đề cái chết, nghe có vẻ tiêu cực và bi quan?
XGM tập trung cốt yếu vào việc đoạn tận cội nguồn khổ đau của chúng sinh – tức là giải quyết trọn vẹn Khổ uẩn (Sanh, Già, Bệnh, Chết). Đây chính là nội dung Tứ Thánh Đế trong bài kinh đầu tiên Kinh Chuyển Pháp Luân (SN 56.11). Đức Thế Tôn cũng khẳng định nhất quán trong Kinh Ví Dụ Con Rắn (MN 22): “Này các Tỳ-kheo, xưa cũng như nay, Ta chỉ dạy về Khổ và sự Diệt Khổ.”
Việc nhận diện Khổ không phải là bi quan, mà là sự thật khách quan. Vì “An tịnh là bản thể, khổ đau là duyên khởi”, nên khi đoạn trừ được duyên khởi của khổ, trạng thái an tịnh tự nhiên hiển lộ. Bên cạnh đó, Đức Phật vẫn dạy các pháp thiết thực cho đời sống cư sĩ:
- Kinh Mahānāma (AN 11.11): Dạy cách an trú trong Năm căn và thực hành Lục niệm để tâm luôn định tĩnh giữa đời thường.
- Kinh Dīghajāṇu (AN 8.54): Hướng dẫn 4 pháp tạo hạnh phúc hiện tại (Tháo vát, Phòng hộ, Thân cận thiện hữu, Sống thăng bằng) và 4 pháp cho hạnh phúc tương lai (Tín, Giới, Thí, Tuệ).
17. Tại sao các Tôn giả như ông Cấp Cô Độc, bà Visākhā hay Ngài Ānanda lại duy trì quả vị Tu-đà-hoàn trong thời gian dài?
Thời Đức Phật, mỗi vị Thánh đệ tử đều có những vai trò và tâm nguyện riêng biệt để hộ trì Tam Bảo:
- Cư sĩ Anāthapiṇḍika và bà Visākhā: Là những bậc Thánh hữu học tại gia. Với niềm tin bất động, họ chọn thị hiện trong hình tướng cư sĩ để làm chỗ dựa tài chính vững chắc, cúng dường các đại tịnh xá (Kỳ Viên, Lộc Mẫu), tạo điều kiện tối ưu cho Tăng đoàn tu học.
- Tôn giả Ānanda: Ngài chứng sơ quả từ sớm nhưng giữ vị thế Thánh hữu học suốt 25 năm làm thị giả. Đây là hiện thân của lòng tận tụy và tâm nguyện lớn lao: Ngài dành trọn thời gian chăm sóc Đức Thế Tôn và ghi nhớ toàn bộ giáo pháp (Đa văn). Chính nhờ sự hy sinh việc tu tập riêng tư đó mà hậu thế mới có được kho tàng Kinh tạng Nikaya nguyên vẹn. Ngài chỉ chứng quả A-la-hán ngay trước kỳ Kết tập kinh điển lần thứ nhất, sau khi đã hoàn thành sứ mệnh thị giả.
18. Ông nghĩ thế nào về việc những chia sẻ của mình có thể gặp phải sự không tán đồng hoặc chỉ trích?
Con xin chia sẻ những thấy biết cá nhân từ quá trình học và hành theo lời Phật dạy với tâm nguyện mang lại lợi lạc cho những đọc giả hữu duyên. Con không giữ lại điều gì cho riêng mình, cũng không mong muốn giữ chặt ai. Con tin rằng khi giữ tâm thiện lành và xả ly, thì mọi pháp đến rồi đi đều vô ngại, tựa như ánh trăng xuyên qua cửa sổ mà không để lại dấu vết gì.
Ở đây, con luôn thọ trì lời dạy của Đức Thế Tôn qua hai bài kinh cốt lõi:
- Kinh Đại Bát Niết Bàn (DN 16): Khi Tôn giả Ānanda lo sợ khi đức Thế Tôn sẽ nhập Niết Bàn, Đức Thế Tôn đã dạy: “Này Ānanda, Ta đã giảng Chánh pháp, không có phân biệt trong ngoài (cho đệ tử hay cho đại chúng). Vì đối với các Pháp, Như Lai không bao giờ là vị Đạo sư còn ‘nắm tay’ (không giữ lại bí mật nào để ràng buộc đệ tử)”. Con cũng nguyện chia sẻ hết lòng những gì mình hiểu mà không có ý đồ thâu tóm hay giữ riêng.
- Kinh Ví Dụ Con Rắn (MN 22): Đức Phật dạy rằng nếu bị nhiếc mắng hay phỉ báng, các Tỷ-kheo chớ nên sân hận; ngược lại, nếu được cung kính cúng dường, cũng chớ nên hoan hỷ, thích thú. Khi đối diện với cả hai sự cực đoan đó, hãy quán chiếu rằng: “Đây chỉ là những tác động lên Năm uẩn (khổ) mà ta đã thấu triệt từ trước”. Thấu hiểu điều này, con đón nhận mọi phản hồi với tâm xả kỷ, biết rằng đó chỉ là sự vận hành của các pháp.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Cầu cho tất cả chúng sinh thường tự tại
