Tỉnh ngộ

tôi là ai?

Khi được hỏi “Ta là ai?”, chắc hẳn nhiều người sẽ nghĩ tới thân thể, tâm thức cùng những sở hữu của mình như tài sản, mối quan hệ, danh vọng và sự hiểu biết. Nhưng có bao giờ bạn quán sát thật kỹ xem trong những thứ đó, cái nào thật sự là bạn và cái nào chỉ là những biểu hiện bên ngoài được hình thành dựa trên một số điều kiện nhất định? Hay bạn chỉ đơn thuần chấp nhận một khái niệm, một định nghĩa “Ta là ai?” chỉ vì nó phù hợp với quan điểm, thiên kiến cá nhân hoặc vì danh tiếng của ai đó mà không cần truy vấn xem đó có phải là sự thật không?

Vậy, bạn hãy tạm gác những kiến thức hiện có về “Ta là ai?” để chúng ta cùng nhau tìm hiểu xem thân thể và tâm thức của ta được cấu thành và hoạt động như thế nào, từ đó tự mình nhận biết được “Ta là ai?”.

Cái thân có thức này có thể phân thành 6 nhóm yếu tố (Lục đại), gồm:

1. Đất

Gồm những gì thuộc về cá nhân, có tính thô cứng do duyên sinh như: tóc, lông, móng, răng, da, thịt, xương, nội tạng và đồ ăn bên trong thân.

2. Nước

Bất cứ chất lỏng nào thuộc về thân và do thân tạo ra, được duy trì trong thân gồm: máu, mỡ, nước miếng, nước tiểu, mồ hôi, dịch, đờm (đàm), mủ.

3. Lửa

Bất cứ sức nóng nào thuộc về thân và do thân tạo ra, được duy trì trong thân; nhờ đó thân được sưởi ấm, thức ăn được tiêu hóa, hoặc khiến thân bị lão hóa.

4. Gió

Bất cứ yếu tố nào thuộc về thân và do thân tạo ra có tánh động, được duy trì trong thân như hơi thở và các luồng khí vận chuyển trong cơ thể.

5. Không

Bất cứ khoảng không nào thuộc bên trong thân như lỗ tai, lỗ mũi, cửa miệng và những khoảng trống để thức ăn đi vào, đi qua và tống ra ngoài.

6. Thức

Chứa đựng toàn bộ trải nghiệm và sự học hỏi tích lũy từ quá khứ đến hiện tại. Nhờ Thức mà chúng ta nhận biết được cảm xúc, cảm thọ, tưởng uẩn và tư duy.

  • Trong đó, 5 nhóm yếu tố đầu khi đủ duyên sẽ hợp thành thân thể; khi không hòa hợp thân thể phát bệnh; khi hết duyên thân thể sẽ tan rã. Do đó, thân thể này thật sự không bền chắc, dễ phai tàn và không đem lại sự thỏa mãn thật sự. Vì thế, nếu ai đó xem thân thể này là “ta“, là “của ta” hay “tự ngã của ta” thì hoàn toàn không hợp lý.
  • Còn lại nhóm yếu tố thứ 6 là Ý thức – vốn trong suốt và tinh khiết. Nó hiện diện nơi phát sinh ra cảm giác (tham lam), cảm thọ (tham hỷ), cảm tưởng (khát ái). Ví như một căn nhà khi mặt trời mọc, ánh sáng đi qua cửa sổ phía Bắc, phía Nam hay phía Đông rọi lên vách phía Tây. Nếu không có vách phía Tây, ánh sáng sẽ rọi lên mặt đất; nếu không có mặt đất, nó sẽ rọi lên mặt nước; nếu không có mặt nước, ánh sáng sẽ không có chỗ dừng.
  • Cũng vậy, ý thức này vốn trong suốt và tinh khiết như ánh sáng trắng trong. Nếu khi căn (giác quan) tiếp xúc với trần (đối tượng) mà không có tham lam, khi cảm thọ không có tham hỷ, khi tưởng nghĩ không có khát ái, thì ý thức ấy sẽ không có chỗ dừng.
Quá trình tiếp xúc giữa một người với thế giới và phản ứng tạo nghiệp thông qua 6 căn được tóm tắt như sau

Sắc - Mắt

Do duyên con mắt và sắc, nhãn thức sanh khởi

Xúc

Sư gặp nhau của con mắt, sắc trần và nhãn thức

Thọ

Với sự có mặt của xúc, cảm thọ xuất hiện

Tưởng

Với sự có mặt của cảm thọ, tưởng xuất hiện

  • Do duyên thọ – tưởng và sự có mặt của vô minh nên có suy nghĩ và tư duy thêu dệt, tạo nên các khái niệm vọng tưởng; rồi vì chấp thủ các khái niệm này mà đưa đến quyết định và thể hiện ý chí qua hành động của thân, khẩu, ý.
  • Nếu tại đây ta nhận ra đối tượng vọng tưởng do tâm thức thêu dệt nên không có gì đáng chấp thủ, thì ngay tại đó sẽ đoạn tận ý nghiệp, thân nghiệp và khẩu nghiệp. Tức là chấm dứt các hành động tạo nghiệp – vốn tạo thành “cánh đồng” mà khi có “độ ẩm khát ái” sẽ làm duyên cho hạt giống thức nảy mầm.
  • Tương tự, ta quán sát đối với năm cặp căn – trần còn lại: tai – tiếng, mũi – hương, lưỡi – vị, thân – xúc và ý – pháp.

Như vậy, do duyên tiếp xúc mà cảm thọ sanh khởi. Nếu khi cảm thọ như thế nào, ta biết rõ ta đang cảm thọ như thế đó mà không khởi lên vọng tưởng, ta sẽ nhận ra tính vô thường của cảm thọ; từ đó sinh tâm nhàm chán, không dính mắc, không hoan hỷ. Khi đó, chỉ còn lại sự xả thanh tịnh: trong sáng, nhu nhuyến, dễ sử dụng và sáng chói.

Nếu vị ấy không còn tạo tác, không còn suy tưởng đến “” hay “không“, vị ấy không chấp thủ bất cứ vật gì trên đời. Vì không chấp thủ nên không lo lắng, tâm hoàn toàn tịch diệt. Vị ấy tự mình biết rõ: “Ta đã đoạn tận tái sanh, phạm hạnh đã hoàn thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái này nữa”.

Cho nên, toàn bộ nội dung của ý thức hình thành nên cái “ta” hiện hữu; nhưng nếu xả bỏ tất cả 6 nhóm yếu tố (Lục đại), thì chỉ còn lại cái Biết hằng thanh tịnh – đó chính là Trí tuệ.

Ta sinh ra để làm gì?

Chúng ta biết rằng là người bình thường, ai cũng muốn sống không muốn chết, muốn vui sướng không muốn khổ đau. Nhưng cuộc sống của ta lại bị giới hạn bởi thời gian, ai sinh ra rồi cũng phải chết. Chúng ta bị tuổi già bao phủ và luôn bị cái chết áp đảo, khủng bố. Đây thật sự là nỗi đau khổ cùng tận, nhưng đa số chúng ta mặc định chấp nhận và cho đó là số phận. Thay vì tìm phương pháp giải quyết “điểm nghẽn” sinh tử này, ta lại dồn tâm trí để không ngừng tìm kiếm những thú vui thế tục thuộc về danh, lợi, tình hay niềm tin tôn giáo. Rồi thời gian cứ trôi qua, ta mãi chìm trong dục lạc và đau khổ cho đến một ngày giật mình thức tỉnh với những câu hỏi nhân sinh.

Bạn có thấy thế giới hiện tại đang đa dạng và phong phú không? Thế giới này đã được hình thành từ những ý tưởng khởi sinh từ ý thức của tất cả chúng sinh hữu tình, được tích lũy qua rất nhiều năm. Mà những ý tưởng này chỉ là một phần nội tâm của chúng sinh. Điều đó cho thấy thế giới nội tâm của chúng ta còn đa dạng và phong phú hơn nhiều. Chúng ta vì mãi rong ruổi theo đuổi và bám víu những ý tưởng này nên tự mình bị mắc kẹt trong thế giới này; nội tâm bị rối ren như tơ vò, không biết đường nào mà lần ra. Tư tưởng chúng sinh tạo ra thế giới, chúng sinh do tư tưởng khát ái thế giới nên thêu dệt, tạo tác thành vọng tưởng trong tâm trí, rồi bám víu, chấp thủ vọng tưởng đó, hình thành một vòng lặp không có điểm bắt đầu và cũng không có điểm kết thúc.

Như vậy, lúc đầu ta chỉ có một vấn đề cốt lõi là nỗi khổ do sự sợ hãi về cái chết gây ra, nhưng do ta không thấy rõ và không quyết tâm vượt qua vấn đề ấy mà lại đi làm những việc giúp “lánh khổ tìm vui”, nên đã sinh ra nhiều hệ lụy như: sầu, bi, khổ, ưu, não; gộp chung thành một nhóm khổ, còn gọi là Khổ uẩn (Dukkha-kkhandha).

Vì vậy, nếu trước đây ta nỗ lực phấn đấu để đạt được những thứ đem đến niềm vui và hạnh phúc bên ngoài, thì từ bây giờ, ta hãy “quay đầu” để hiểu rõ đâu là cội nguồn của khổ đau. Hãy thực hành theo con đường đưa đến đoạn diệt nguyên nhân sinh ra khổ uẩn này: đó chính là Khát ái (Taṇhā), kết hợp với Tham (Rāga) và Hỷ (Nandī), sự tìm cầu chỗ này chỗ kia đưa đến tái sanh, làm duyên cho già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não — tức là toàn bộ khối khổ đau này.

Khi chết ta sẽ đi về đâu?

Có một cơ chế tái sinh mà ta cần phải biết, đó là ngay lúc sắp chết, tư tưởng ta hướng về đâu thì ta sẽ tái sinh về đó. Những việc làm (hành nghiệp) của ta tạo ra “cánh đồng” (Tam giới); khi có “độ ẩm” Khát ái, nó sẽ làm duyên cho “hạt giống” Thức tích lũy từ bao đời nay nảy mầm và sinh trưởng đúng thời điểm.

Tuy nhiên, đó là vấn đề của tương lai sau khi thân hoại mạng chung; còn hiện tại, ta cần phải chuẩn bị và thực hành những gì để vượt qua “bài kiểm tra” quan trọng này? Nếu sống theo Chánh pháp và thành tựu những gì cần làm, ta sẽ tự tin, thanh thản bước qua và tự mình biết rõ. Biết rõ điều gì?

Sư tận cùng của thân

Biết rõ khi cảm thọ sự tận cùng của thân thể: “Tôi đang cảm thọ sự tận cùng của thân thể”.

Sự tận cùng của mạng sống

Biết rõ khi cảm thọ tận cùng của mạng sống: “Tôi đang cảm thọ tận cùng của mạng sống”

cảm thọ sẽ trở nên mát lạnh

Biết rõ sau khi thân hoại mạng chung, tất cả mọi cảm thọ sẽ trở nên mát lạnh, không còn đáng hoan hỷ nữa.

Do duyên Xúc mà cảm thọ tương ứng sinh khởi; nếu duyên Xúc không còn thì cảm thọ tương ứng cũng không còn. Giống như hai thanh gỗ cọ xát vào nhau làm lửa cháy và tạo ra hơi nóng; nếu tách hai thanh gỗ ra, không cho tiếp xúc thì lửa sẽ tắt và hơi nóng không còn. Cũng vậy, khi duyên Xúc sinh khởi cảm thọ, nếu ta biết rõ cảm thọ như nó “đang là”, thì cảm thọ đó sẽ trở nên nguội lạnh, không khởi lên tư tưởng và mong cầu; ngay tại đó, duyên Xúc đoạn diệt.

Khi ấy, ta không còn tạo tác, không còn ý định hướng đến tái sanh hay không tái sanh. Vì không còn tạo tác, không còn suy tưởng đến việc hữu hay phi hữu, ta không chấp thủ bất cứ điều gì ở đời. Do không chấp thủ nên không còn lo lắng, sợ hãi; do không lo lắng nên tự mình hoàn toàn tịch diệt. Ta tự mình biết rõ: “Ta đã đoạn tận tái sanh, phạm hạnh đã hoàn thành, việc cần làm đã làm xong, gánh nặng đã đặt xuống, không còn trở lại đời này nữa”.

Ngược lại, nếu ta không sống theo Chánh pháp và không thành tựu những gì cần làm, tư tưởng sẽ bị dao động mạnh bởi lo lắng, sợ hãi, hối hận và nghi ngờ. Từ đó khởi lên tư tưởng Khát ái (độ ẩm) kết hợp với Hỷ và Tham làm phát sinh vọng tưởng (hạt giống nảy mầm), rồi chấp thủ vọng tưởng dẫn đến tái sinh vào cõi (mảnh ruộng) tương ứng để dự phần phước nghiệp đã tạo. Như vậy, đối với ta: sanh chưa tận, phạm hạnh chưa thành, còn việc phải làm, chưa đặt gánh nặng xuống và sẽ còn trở lại đời này.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Cầu cho tất cả chúng sinh thường tự tại