thực hành
Phần I: Nguyên Lý thực hành
Mục đích xuyên suốt của chúng ta là chứng ngộ giải thoát khỏi khổ uẩn. Và chúng ta đã xác định do vô minh không nhận ra bản tánh thật của pháp là vô thường, khổ, vô ngã nên ta phát khởi tham ái chấp thủ pháp dẫn đến luân hồi đau khổ. Do đó trong phần này ta dùng cái biết của ta nương theo tri kiến Phật, tức là chánh Pháp để tu tập và phát triển niệm, định và tuệ để quán sát và nhận ra bản tánh của Pháp là vô thường, khổ, vô ngã từ đó ta sinh tâm viễn ly, nhàm chán, ly tham, đoạn diệt và xả ly (từ bỏ) tất cả các pháp.
Và chúng ta sẽ truy theo vết tích của pháp như đã mô tả trong trang phân tích: từ lúc xâm nhập, biến đổi, an trú, chấp thủ và phản ứng để tuệ tri bản chất vô thường, khổ và vô ngã của chúng và tự nhiên sinh tâm nhàm chán, ly tham, không còn hoan hỷ và từ bỏ chúng.
tiếp xúc
Căn với Trần
Thâm nhập
Thọ và Tưởng
khởi sinh
Biến đổi
Tầm và Tứ
Phản ứng
Quyết định hành động
Kết quả
Đời sống mới
Mô tả vết tích của Pháp
- Tiếp xúc: Đối tượng trần cảnh tiếp xúc nội căn -> Được tác ý -> Thức ghi nhận (Hiện ảnh đối tượng/Sắc pháp).
- Thâm nhập: Sắc pháp -> được cảm thọ -> được nhận biết và đặt tên (tưởng).
- Biến đổi : Tưởng pháp -> Tâm hướng đến và quán sát tưởng pháp (tầm và tứ) -> Do vô minh sinh khát ái câu hữu với tham và hỷ (ý thức phân thành ngã và Pháp) -> Thêu dệt nên khái niệm vọng tưởng (Tư) -> Sinh tâm hoan hỷ, đón nhận, bám víu đối tượng vọng tưởng (đối tượng).
- Phản ứng: Bám víu (chấp thủ) đối tượng -> Khiến các tâm tùy miên khởi lên hình thành ý chí -> ra quyết định hành động (thân và khẩu) -> Tạo nghiệp.
- Hậu quả: Nghiệp -> Rồi kinh nghiệm được bổ sung và cập nhật cho ý thức -> tạo thành vòng lặp mới.
- Sự tiếp xúc và thâm nhập của pháp ban đầu chỉ là hoạt động sinh lý bình thường. Sai lầm bắt đầu khi tâm thiếu sự định tĩnh, dẫn đến việc đuổi theo các ảnh tượng (tầm tứ trên tưởng). Do không thấy rõ bản chất thực tại (vô minh), khát ái phát sinh làm nảy sinh các vọng tưởng. Đây là mấu chốt dẫn đến bám giữ (chấp thủ), hình thành ý chí hành động, tạo nghiệp và ghi dấu ấn ngược lại vào dòng tâm thức.”
- Khi không còn tham lam, hỷ lạc và khát ái, Thức sẽ không còn chỗ an trú hay bám chấp vào Sắc, Thọ, Tưởng, Hành. Ngay lúc đó, dòng suy tư (vọng tưởng) dừng lại, tâm trở nên định tĩnh và trí tuệ phát sinh. Khi nhận ra bản tánh Vô thường, Khổ, Vô ngã, tâm sẽ ngừng thêu dệt các khái niệm vọng tưởng, chấm dứt chấp thủ và giải thoát khỏi các tùy miên. Mọi hành động nghiệp từ thân-khẩu dừng lại, tâm thoát khỏi các lậu hoặc và không còn bám chấp vào năm uẩn.”
Phần 2: Hướng dẫn thực hành Thiền Tứ Niệm Xứ – Chánh niệm hơi thở
Thời điểm
Chọn lúc thích hợp
không gian yên tĩnh
để tránh bị quấy nhiễu
Tư Thế
Ngồi kiết già,
giữ lưng giữ thẳng
mắt khép hờ.
Thực hành
Thiết lập niệm
hiện tiền
Chánh niệm thở vào
chánh niệm thở ra
- Điều kiện lý tưởng: Việc kết hợp thời điểm, cách khép mắt và tư thế giúp hành giả nhập định nhanh chóng. Thay vì phải canh giữ cùng lúc “6 con vật” (6 căn), ta chỉ cần kiểm soát “con đầu đàn” (Ý căn) bằng cách cột nó vào “cái cọc” hơi thở. Khi Ý căn đã được thuần phục, nó sẽ tự điều phục 5 căn còn lại một cách dễ dàng.
Thân như hoa sen nở: Ngồi kiết già, giữ lưng thẳng bằng cách đẩy nhẹ cột sống thắt lưng về phía trước, hướng người lên trên tạo thành một trục thẳng từ đỉnh đầu xuống xương cùng. Tư thế này giúp toàn thân mở ra như đóa sen nở rộ, đón nhận tinh hoa vũ trụ.
- Lưu ý: Nếu chưa ngồi kiết già được, có thể tạm thời ngồi bán già hoặc xếp bằng nhưng phải giữ lưng thẳng. Tuy nhiên, cần kiên trì tập kiết già để đạt hiệu quả tối đa. Cảm giác đau, khó chịu lúc đầu chính là đối tượng để thực hành quán niệm trên Thân, Thọ, Tâm và Pháp.
Vòng năng lượng khép kín: Hai tay đặt chồng lên nhau (tay trái ở trên, hai đầu ngón cái chạm nhẹ), đầu lưỡi chạm hàm trên, nhíu nhẹ hậu môn. Kết hợp với tư thế kiết già, toàn thân tạo thành một “vòng tuần hoàn khép kín”.
- Cơ chế: Khí trong cơ thể sẽ lưu thông tuần hoàn theo vòng xoáy (tương tự quỹ đạo các hành tinh), tạo ra dòng năng lượng lớn quét sạch các chướng ngại pháp. Nguyên lý này tương đồng với Định luật cảm ứng điện từ Faraday.
- Kết quả: Khi chướng ngại tan biến, hành giả chứng nhập Tứ thiền – trạng thái tâm “Xả niệm thanh tịnh”, sáng chói và nhu nhuyến. Lúc này, ta dùng tâm định tĩnh đó chiếu soi vào nội tâm để đoạn tận vô minh và phiền não. Đây là sự khác biệt: năng lượng vũ trụ có tính ly tâm (phân tán), còn năng lượng thiền định có tính hội tụ (tập trung vào bên trong).
Hợp nhất Thân – Tâm: Đưa tâm về thực tại bằng cách hướng tâm đến hơi thở (Tầm) và duy trì sự tỉnh giác trên hơi thở (Tứ).
- Hành giả sau khi an trú, chánh niệm hơi thở vào, chánh niệm hơi thở ra và tùy quán nhận biết (niệm) về pháp sinh khởi từ thân, từ cảm thọ, từ tâm hành, hay từ tâm thức một cách nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để nhiếp phục tham ưu ở đời.
- Đây là phương pháp tu tập để phát triển trí tuệ dùng để thấy rõ pháp do thức sinh khởi nơi sắc, thọ, tưởng hay hành và nhận ra bản tánh của vạn pháp là vô thường, khổ, vô ngã để nhiếp phục tham ưu ở đời tức đoạn tận khổ đau của già chết sầu bi khổ ưu não.
- Tại sao chọn hơi thở? Vì hơi thở thuộc về Thân (do thân tạo ra) nên khi chú tâm vào hơi thở là ta đang đưa tâm về thực tại. Hơi thở là nhịp cầu nối liền Thân – Tâm, là hoạt động tự nhiên liên tục mà không cần tác ý (vô ngã).
Phần 3: Diễn biến nội tâm khi thực hành Niệm Hơi Thở
- Khi bắt đầu buổi thiền tập, chúng ta chủ động neo tâm vào tiến trình hơi thở nhằm thiết lập sự tỉnh giác và chánh niệm. Nhờ khéo léo quan sát từng hơi thở vào, hơi thở ra và cảm giác toàn thân hành của hơi thở, chúng ta sẽ bước vào trạng thái thiền định (Samādhi) một cách tự nhiên. Bước khởi đầu này chính là hiện thân của “Pháp Môn Đầu Tiên” được phác thảo trong phần giới thiệu XGM — nhắc nhở chúng ta rằng mọi pháp đều lấy ước muốn tu tập (dục / chanda) làm căn bản.
- Trong quá trình tu tập, sự nhận biết (niệm) có thể sinh khởi từ thân, thọ, tâm, hay các pháp. Tại thời điểm, chúng ta an trú tùy quán thân, thọ, tâm, hay pháp, vào lúc ấy, chúng ta vẫn luôn nhiệt tâm, tỉnh giác và chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
Thân
Quán Thân
Kāyā Anupassanā
Thọ
Quán Thọ
Vedanā Anupassanā
Tâm
Quán Tâm
Cittā Anupassanā
Pháp
Quán Pháp
Dhammā Anupassanā
- Quan sát hơi thở (Quán Thân trên Thân) – Tiến đến Thân Tâm hợp nhất:
Khi ta chánh niệm thở vào, chánh niệm thở ra là ta đang quán niệm Thân trên Thân. Ban đầu, ta cảm nhận rõ ràng chuyển động của hơi thở dài hay ngắn đúng như nó đang diễn ra, cho đến khi tâm ta hợp nhất với hơi thở. Cảm giác hỷ lạc lan tỏa toàn thân, rồi hơi thở dần trở nên dịu lại, nhỏ nhiệm và vi tế cho đến khi an tịnh thân hành (trạng thái không còn tầm, không còn tứ). - Cảm thọ hỷ lạc (Quán Thọ trên Thọ) – Giữ vững định lực trên hơi thở:
Tiếp tục nhiệt tâm, tinh tấn, chánh niệm và tỉnh giác để quan sát rõ ý thức. Ta nhận biết rõ ràng sự thay đổi của trạng thái tâm (cảm nhận tâm hành) từ hỷ đến lạc và đạt đến sự định tĩnh. Lúc này, hành giả cần khéo léo để không tham đắm hay chấp trước vào các cảm thọ hỷ lạc này; thay vào đó, vẫn giữ tâm an tịnh (ly hỷ trú xả) và tỉnh giác chánh niệm trên hơi thở vào – hơi thở ra để giữ vững định lực, luôn nương vào hơi thở để trở về thực tại. - Cảm nhận về Tâm (Quán Tâm trên Tâm) – Chánh niệm tỉnh giác:
Tiếp tục nhiệt tâm, tinh tấn, chánh niệm và tỉnh giác, ta nhận biết rõ ràng sự thay đổi trạng thái của tâm từ hoan hỷ đến định tĩnh sâu dày. Tâm được giải thoát khỏi tham-sân-si và các tâm tùy miên, không còn chấp thủ bất cứ vật gì (xả niệm thanh tịnh). Niệm hơi thở sẽ không đến với những ai thiếu đi sự chánh niệm và tỉnh giác. - Tuệ tri các Pháp (Quán Pháp trên Pháp) – Đoạn trừ tham ưu:
Với tâm thuần tịnh, trong sáng, nhu nhuyến và sáng chói, ta quan sát các pháp đang khởi lên trong tâm thức. Ta thấy rõ bản chất thật của các pháp là: Vô thường – Ly tham (không có tính tham) – Đoạn diệt (tự biến hoại) – và Xả ly (độc lập, không dính dáng gì đến “ta”). Khi đó, tâm hoàn toàn giải thoát khỏi tham-sân-si, cắt đứt mọi hữu kiết sử, thể nhập bất tử và chấm dứt vòng lặp tái sanh.
Phần 4: Phân tích cơ chế Công pháp theo diễn biến nội tâm
1. Cơ chế vận hành của tâm khi đối diện với Pháp (Dhamma):
- Khi Pháp khởi lên: Nhờ định lực, ta tỉnh giác tuệ tri Pháp như nó đang là (Sắc, Thọ, Tưởng hay Hành). Ngay sau đó, ta tỉnh giác chánh niệm hơi thở và biết rõ: “Ta đang thở vào”.
- Khi Pháp vẫn hiện hữu: Ta tiếp tục tỉnh giác nhận biết sự hiện diện của nó, rồi tỉnh giác chánh niệm hơi thở và biết rõ: “Ta đang thở ra”.
- Khi Pháp tan biến: Quy trình trên lặp lại cho đến khi Pháp không còn hiện hữu. Lúc này, hành giả chánh niệm an trú hoàn toàn trên hơi thở, quan sát ý thức mà không cần tác ý thêm, dần tiến nhập các tầng thiền định như mô tả ở Phần 3 ở trên.
2. Ý nghĩa của sự nương tựa vào hơi thở
- Công pháp này ví như dùng ánh sáng trí tuệ soi chiếu vào các Pháp khi chúng hiện khởi trong tâm thức. Tuy nhiên, trong thời gian đầu tu tập, khi định lực và trí tuệ còn yếu, Pháp vẫn có thể tác động đến tâm. Việc nương vào hơi thở để trở về thực tại giúp tâm định tĩnh để phát sinh tuệ. Nhờ trí tuệ này, ta soi chiếu vào các Pháp mà không bị dính mắc (Upādāna).
3. Kết quả của việc Thực hành Quán niệm Hơi thở (Anapanasati)
Kết quả của việc Thực hành Quán niệm Hơi thở (Anapanasati)
- Tâm thức không còn thêu dệt các khái niệm ảo tưởng, từ đó chấm dứt sự chấp thủ cùng sự hình thành của hành uẩn và nghiệp hành (saṅkhāra). Chúng ta dừng lại việc tạo tác các hạt giống tái sinh (kamma) qua thân và khẩu, đồng thời ngăn chặn sự tăng trưởng thêm nữa của thức uẩn.
- Thực hành quán niệm hơi thở làm viên mãn Bốn Lập Xứ (Tứ Niệm Xứ) và thành tựu Bảy Yếu Tố Giác Ngộ (Thất Bồ Đề Phần). Khi tâm liên tục nương tựa vào viễn ly (vivekanissitaṁ), ly tham (virāganissitaṁ), đoạn diệt (nirodhanissitaṁ), và hướng đến từ bỏ (vossaggapariṇāmiṁ), thì tuệ giác chân thật và giải thoát sẽ khởi sinh, đưa chúng ta thoát khỏi nỗi khổ của sinh tử.
Tứ Niệm
Xứ
Thực hành chánh niệm
hơi thở vào - hơi thở ra
Thất Giác
Chi
Thực hành tùy quán
Thân, Thọ, Tâm Pháp
Minh và
Giải thoát
Hướng đến viễn ly
ly tham, đoạn diện, xả ly
Cách Thực hành Quán niệm Hơi thở Làm Viên Mãn Tứ Niệm Xứ.
- Việc thực hành lặp đi lặp lại quán niệm hơi thở, như đã mô tả ở phần trước, sẽ nuôi dưỡng và làm viên mãn Bốn Lập Xứ (Tứ Niệm Xứ).
Cách Phát triển và Nuôi dưỡng Bốn Lập Xứ để Làm Viên Mãn Thất Giác Chi.
- Mỗi khi chúng ta trú niệm quán sát một khía cạnh của thân, thọ, tâm, hay pháp (dhammas), vào lúc ấy chúng ta đang nhiệt tâm, cần, tỉnh giác và chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu ở đời. Vào thời điểm đó, Niệm giác chi (yếu tố giác ngộ về chánh niệm) được khởi phát trong ta; chúng ta phát triển và làm hoàn hảo yếu tố ấy.
- Khi sống chánh niệm theo cách này, chúng ta dùng tuệ giác để thẩm nghiệm, khám phá và trạch sát pháp (dhamma) đó. Vào thời điểm đó, Trạch pháp giác chi (yếu tố giác ngộ về thẩm nghiệm giáo pháp) được khởi phát trong ta; chúng ta phát triển và làm hoàn hảo yếu tố ấy.
- Khi dùng tuệ giác trạch sát các pháp theo cách này, năng lực (sự tinh tấn) của chúng ta được khơi dậy và không thối chuyển. Vào thời điểm đó, Tinh tấn giác chi (yếu tố giác ngộ về sự nỗ lực) được khởi phát trong ta; chúng ta phát triển và làm hoàn hảo yếu tố ấy.
- Khi có tinh tấn, hỷ lạc siêu thế (hỷ ly thế gian) sẽ phát sinh. Vào thời điểm đó, Hỷ giác chi (yếu tố giác ngộ về niềm vui hân hoan) được khởi phát trong ta; chúng ta phát triển và làm hoàn hảo yếu tố ấy.
- Khi tâm tràn ngập hỷ lạc, cả thân và tâm của chúng ta đều trở nên khinh an (tĩnh lặng). Vào thời điểm đó, Khinh an giác chi (yếu tố giác ngộ về sự thư thái, tĩnh lặng) được khởi phát trong ta; chúng ta phát triển và làm hoàn hảo yếu tố ấy.
- Khi thân khinh an và ta cảm nhận được hạnh phúc (lạc), tâm sẽ trở nên định tĩnh, thu nhiếp trong Định (samādhi). Vào thời điểm đó, Định giác chi (yếu tố giác ngộ về sự định tâm) được khởi phát trong ta; chúng ta phát triển và làm hoàn hảo yếu tố ấy.
- Chúng ta khéo léo hộ trì và quán sát tâm đang định tĩnh trong Định đó. Vào thời điểm đó, Xả giác chi (yếu tố giác ngộ về sự bình thản, tâm xả) được khởi phát trong ta; chúng ta phát triển và làm hoàn hảo yếu tố ấy.
Và Cách Phát triển, Nuôi dưỡng Bảy Yếu Tố Giác Ngộ để Làm Viên Mãn Minh (Tuệ Giác Chân Thật) và Giải Thoát
- Điều này thành tựu khi chúng ta tu tập bảy yếu tố giác ngộ gồm: niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định, và xả — những yếu tố vốn nương tựa vào viễn ly, ly tham, đoạn diệt, và viên mãn trong sự hướng đến từ bỏ.
4. Con Đường Độc Nhất Dẫn Đến Thanh Tịnh Và Giải Thoát Tối Hậu
Đức Phật đã tuyên bố: Tứ Niệm Xứ là con đường độc nhất (Ekāyano maggo) dẫn đến thanh tịnh, vượt khỏi sầu bi, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh lý và chứng ngộ Niết-bàn. Bởi thành tựu Tứ Niệm Xứ chính là thành tựu trọn vẹn Giới – Định – Tuệ.
Những Lưu Ý Quan Trọng Dành Cho Người Thực Hành Thiền Niệm Hơi Thở
- Mặc dù các giai đoạn riêng biệt này của tiến trình tâm được trình bày theo thứ tự tuần tự để dễ hiểu về mặt lý thuyết, nhưng trên thực tế, chúng có thể diễn ra ngay trong một sát-na chánh niệm (sati). Đặc biệt, ngay tại khoảnh khắc mà niệm giác chi được khởi phát trong ta, các yếu tố giác ngộ tiếp theo có thể đồng khởi lên chỉ trong một cái chớp mắt (một tích tắc).
- Việc không thể ngồi tư thế kiết già (kiết già trọn vẹn) trong lúc thực hành thiền định có thể cản trở tinh tấn giác chi đạt đến sự hoàn hảo, từ đó gây trở ngại cho chúng ta trong việc phát triển và làm viên mãn các yếu tố giác ngộ tiếp theo.
- Mỗi khi chúng ta tỉnh giác và chánh niệm về các pháp (dhammas), chúng ta nương vào hơi thở vào và hơi thở ra để an trú bản thân trong giây phút hiện tại. Điều này giúp chúng ta duy trì sự nhiệt tâm, tỉnh giác và chánh niệm, để khi đã nhiếp phục tham ưu ở đời.
Phần 5: Các vấn đề phát sinh khi thực hành thiền niệm hơi thở
Trong quá trình thực hành, khi các vọng niệm khởi lên, ta cần nhận diện và quan sát chúng đúng như bản chất đang là. Sau đó, hãy khéo léo hướng tâm trở về hơi thở để duy trì sự tỉnh giác và chánh niệm; tuyệt đối không cố ý điều khiển hay ép buộc hơi thở.
Đối với người mới tu tập, do thói quen tư duy đã ăn sâu nên chỉ cần một ý nghĩ nhỏ phát sinh cũng đủ để tâm thức thêu dệt nên một câu chuyện dài không hồi kết. Khi đó, nếu lặng lẽ quan sát, bạn sẽ nhận ra có một “lời độc thoại” đang diễn ra trong đầu, khiến tâm xao động và mất đi sự tỉnh giác. Tuy nhiên, thay vì nản chí, mỗi khi nhận ra mình đang phóng dật, hãy ngay lập tức đưa tâm trở về chánh niệm hơi thở.
Năm chướng ngại ngăn cản định và tuệ (Năm triền cái):
Tham
dục
Kāma-chanda
Sân
Hận
Byāpāda
Hôn trầm
Thụy Miên
Thīna-midha
trạo
hối
Uddhacca kukkucca
Nghi
Hoặc
Vicikicchā
Mô tả và ẩn dụ về năm Triền Cái (Nhấn vào + để mở rộng)
Mô tả 5 Triền cái
- Tham dục: Khiến những hình ảnh ham muốn liên tục hiện khởi, kích thích các giác quan tìm kiếm sự thỏa mãn bên ngoài.
- Sân hận: Khiến tâm bị thiêu đốt bởi những ác cảm hoặc hình ảnh gây khó chịu, làm dòng suy nghĩ trở nên hỗn loạn và căng thẳng.
- Hôn trầm – Thụy miên: Trạng thái lờ đờ, buồn ngủ hoặc thiếu ý chí, khiến tâm rơi vào thụ động, giải đãi và mất năng lượng.
- Trạo hối: Tâm bị dao động do mong cầu kết quả quá mức, nôn nóng, hoặc bị dằn vặt bởi những lỗi lầm quá khứ và những việc tốt chưa làm.
- Nghi hoặc: Sự chần chừ, do dự do thiếu niềm tin vào phương pháp, giáo pháp hoặc khả năng của chính bản thân mình.
Ẩn dụ về 5 Triền Cái
- Đức Phật ví năm chướng ngại này giống như việc soi mặt mình trong bát nước: nước bị nhuốm màu (Tham dục), bị nấu sôi (Sân hận), bị rong rêu phủ đầy (Hôn trầm), bị gió làm xao động (Trạo hối), hoặc bị khuấy đục (Nghi hoặc). Chỉ khi bát nước tĩnh lặng và trong trẻo, ta mới thấy rõ được mặt mình.
Khi đoạn trừ được 5 chướng ngại này, hành giả sẽ cảm thấy nhẹ nhõm như người thoát khỏi nợ nần, hết bệnh tật, ra khỏi tù tội, thoát kiếp nô lệ hoặc đi băng qua sa mạc an toàn.
- Kết luận: Ta cần nhận diện và điều phục năm chướng ngại này để có thể nhập định. Niệm hơi thở chính là sợi dây cột tâm vào thân, giúp xoa dịu những mệt nhọc, nhiệt não để đạt đến sự bình an và chứng ngộ. Việc tự mình chứng nghiệm các tầng thiền định là cơ sở để xác tín rằng giáo pháp là thiết thực và hiện tại. Niềm hỷ lạc khi tâm ly rời các bất thiện pháp (Thiên lạc) có giá trị cao thượng hơn nhiều so với những vui thú vật chất tầm thường.
Phần 6: Các tầng thiền định sắc giới
- Thiền niệm hơi thở là sự kết hợp giữa thiền định (Samatha) và thiền tuệ (Vipassana), hay còn gọi là chỉ và quán song tu, tăng trưởng theo vòng xoắn ốc tăng thượng tâm. Thực hành thiền niệm hơi thở cũng là thực hành thiền Tứ Niệm Xứ để phát triển niệm lực, định lực và tuệ lực. Khi tu tập nhiều lần, ta sẽ chứng nhập được 4 tầng thiền định sắc giới với trạng thái tâm là xả niệm thanh tịnh. Với tâm thuần tịnh, trong sáng, dễ sử dụng và sáng chói này, ta có thể quan sát, thấy rõ bản chất của các pháp là vô thường, khổ, vô ngã; từ đó tự sinh tâm viễn ly, ly tham, đoạn diệt và xả ly đối với chúng. Khi đó, tâm được giải thoát khỏi tham, sân, si, cắt đứt mọi hữu kiết sử, thể nhập bất tử và không còn tái sanh.
- Như vậy, việc chứng nhập các tầng thiền định là quá trình tâm tăng thượng đến trạng thái định xả niệm thanh tịnh, sáng chói. Từ đó, ta dễ dàng hướng tâm đến các pháp khi chúng sinh khởi và rõ biết chúng “đang là”, không phải là cứu cánh. Vì vậy, ta không lấy việc chứng nhập thiền định làm thành đối tượng khiến tâm bị trói buộc. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần nhận biết các trạng thái chứng nhập trong quá trình tu tập để biết mình đang đi đúng hướng, giúp tăng trưởng tín lực và tấn lực.
Sơ Thiền
5 chi: Tầm, Tứ, hỷ, lạc, định
Trạng thái: hỷ lạc do ly dục
Nhị thiền
3 chi: Hỷ, lạc, định
Trạng thái: Nội tĩnh nhất tâm
Tam Thiền
3 chi: hỷ lạc, định
Trạng thái: Xả, chánh niệm tỉnh giác
Tứ thiền
2 chi: xả cảm thọ, định
Trạng thái: Xả niệm thanh tịnh
1. Sơ thiền: Một trạng thái hỷ lạc do ly dục, ly ác bất thiện pháp sanh, có tầm, có tứ (còn quan sát hơi thở). Hỷ lạc thấm nhuần, tăng trưởng và lan khắp toàn thân, không chỗ nào trên thân không thấm nhuần hỷ lạc đó. Ví như một người hầu tắm rắc bột tắm vào cái thau, dùng miếng bông tắm thấm nước và nhào trộn thật kỹ cho thấm đẫm nước và bột tắm cả trong lẫn ngoài, nước không chảy thành giọt. (Tương ứng: Cảm giác toàn thân có hỷ lạc và quán hơi thở).
2. Nhị thiền: Một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Hỷ lạc thấm nhuần, tăng trưởng và lan khắp toàn thân, không chỗ nào trên thân không thấm nhuần hỷ lạc đó. Ví như một cái hồ có nước ngầm phun lên, không có chỗ nào để nước thoát ra và thỉnh thoảng lại có thêm nước mưa làm cho nước trong hồ dâng lên, ngập tràn, khiến cho không có chỗ nào trong hồ không được nước mát thấm nhuần. (Tương ứng: Tịnh chỉ thân hành, không tầm không tứ).
3. Tam thiền: Một trạng thái xả niệm lạc trú (do ly hỷ trú xả và chánh niệm tỉnh giác). Sự lạc thọ thấm nhuần, tăng trưởng và lan khắp toàn thân, không chỗ nào trên thân không thấm nhuần cảm thọ không có hỷ đó. Ví như những cọng sen xanh, sen hồng hay sen trắng lớn lên trong nước, không vượt khỏi mặt nước, được nước nuôi dưỡng, thấm nhuần bởi nước tươi mát, không chỗ nào của sen không được nước mát lạnh ấy thấm nhuần. (Tương ứng: Chánh niệm tỉnh giác).
4. Tứ thiền: Một trạng thái xả niệm thanh tịnh (do xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước). Hành giả thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được thấm nhuần với tâm thuần tịnh trong sáng ấy. Ví như một người ngồi dùng tấm vải trắng trùm đầu, không một chỗ nào trên toàn thân không được tấm vải trắng che đậy. (Tương ứng: Giai đoạn quán pháp trên pháp).
Phần 7: Tóm tắt các giai đoạn tu tập của một hành giả
GĐ | Mô tả các giai đoạn | Đệ tử xuất gia | Đệ tử tại gia |
1 | Phát khởi tín căn | Sau khi nghe pháp của Như Lai | Sau khi nghe pháp của Như Lai |
2 | Xoay chuyển tâm thức | Nghĩ về đến đời sống phạm hạnh xuất gia | Hướng về đời sống thiện lương và đạo đức |
3 | Phát nguyện hạnh | Xả ly tài sản và gia đình, sống đời sống xuất gia | Quy y tam bảo, sống theo pháp luật, thực hành bố thí |
4 | Thọ trì giới | Giới bổn Patimokkha | 5 giới là không: sát, dâm, đạo, vọng ngôn và uống rượu |
5 | Phòng hộ 6 căn: | Điều phục và hộ trì các căn | Điều phục và hộ trì các căn |
6 | Tiết độ ăn uống, đồ dùng | Giác sát khi thọ dụng món ăn, đồ dùng | Thiểu dục chi túc |
7 | Chú tâm cảnh giác | Gột rửa tâm trí trong lúc thức và ngủ | Gột rửa tâm trí trong lúc thức và ngủ |
8 | Chánh niệm tỉnh giác | Luôn tỉnh giác trong các hành động, cử chỉ | Luôn tỉnh giác trong các hành động, cử chỉ |
9 | Đoạn trừ 5 triền cái | Quán các pháp đối trị để thoát ly 5 triền cái | Quán các pháp đối trị để thoát ly 5 triền cái |
10 | Thiền quán tứ niệm xứ | Niệm hơi thở, thành tựu 4 niệm xứ, 7 giác chi, chứng minh giải thoát để có thể kham nhẫn mọi khổ đau không sinh phiền não lúc sống và tâm không dao động lúc chết | Niệm hơi thở, thành tựu 4 niệm xứ, 7 giác chi, chứng minh giải thoát để có thể kham nhẫn mọi khổ đau không sinh phiền não lúc sống và tâm không dao động lúc chết |
Phần 8: Tóm tắt
Chúng ta đã cùng nhau trải qua tiến trình học hỏi, tư duy và thực hành lời dạy của Đức Phật trong các kinh điển Nikāya. Giờ là lúc để cùng ôn lại và củng cố lại kiến thức của mình. Nhấp vào đây để mở rộng.
Sơ đồ hoạt động của tâm thức
Cấu Trúc Của Tâm Thức: Khám Phá Năm Uẩn Và Trải Nghiệm Giác Quan
DIỄN GIẢI SƠ ĐỒ TÂM PHÁP
Đối với mắt, các sắc, nhãn thức, và các pháp được nhận biết bởi nhãn thức; do có dục, có tham dục, có tham hỷ, có khát ái nên các pháp khởi hiện hành và trở thành phương tiện để cho tâm thức chấp thủ, cố chấp, thiên chấp và tùy miên. Với tâm định tĩnh và trí tuệ (tri kiến thanh tịnh) ta sẽ thấy rõ tánh của các pháp ấy là vô thường, khổ, không và vô ngã. Sau khi nhìn thấy rõ với trí tuệ sự đoạn tận của tham ái và ưu phiền ấy, ta khéo léo quan sát các pháp với tâm xả ly. Do sự tận diệt, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ và xả ly hoàn toàn tâm ta sẽ được giải thoát và giải thoát tri kiến.
Do đó khi nhìn sắc bằng mắt, ta không tham đắm sắc khả ái, không sân hận sắc không khả ái, sống an trú trên thân với tâm vô lượng không có hạn hẹp, biết rõ như thật sự giải thoát của tâm khỏi phiền não (tham, sân, si), biết rõ như thật tuệ giải thoát nơi mà các ác bất thiện pháp đoạn diệt, không có dư tàn.
Tương tự như vậy đối với tai đối với các âm thanh (thanh trần), mũi đối với các mùi hương (hương trần), lưỡi đối với các vị (vị trần), thân đối với các vật xúc chạm (xúc trần), và ý đối với các pháp (pháp trần).
Xin chúc mừng hành giả đã và đang vững bước trên con đường giác ngộ và giải thoát. Đến giai đoạn này, hành giả có thể dùng Bát-nhã Tâm Kinh để kiểm chứng sự tinh tấn và công phu tu học của mình. Khi đối chiếu với kinh văn, hành giả sẽ thấy công pháp này tương ứng với câu ‘Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát-nhã Ba-la-mật-đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách’, đồng thời cũng có thể liễu tri trọn vẹn tinh hoa sâu sắc của bản Tâm Kinh này.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Cầu cho tất cả chúng sinh thường tự tại
